百Bách 喻Dụ 經Kinh 卷quyển 第đệ 三tam
Kinh Bách Dụ ♦ Quyển 3

四tứ 十thập 二nhị估Cổ 客Khách 駝Đà 死Tử 喻dụ
42. Thương Gia và Con Lạc Đà Chết


譬thí 如như 估cổ 客khách遊du 行hành 商thương 賈cổ會hội 於ư 路lộ 中trung而nhi 駝đà 卒thốt 死tử駝đà 上thượng 所sở 載tải多đa 有hữu 珍trân 寶bảo細tế 軟nhuyễn 上thượng 氎điệp種chủng 種chủng 雜tạp 物vật駝đà 既ký 死tử 已dĩ即tức 剝bác 其kỳ 皮bì商thương 主chủ 捨xả 行hành
Thuở xưa có một thương gia đang trên chuyến buôn bán. Giữa đường, chẳng may con lạc đà bỗng dưng bị chết. Ở trên lưng con lạc đà này mang rất nhiều trân bảo, các tấm thảm mềm mại, và những đồ lặt vặt. Khi con lạc đà đã chết, người thương chủ lóc da của nó, rồi tiếp tục lên đường.

坐tọa 二nhị 弟đệ 子tử而nhi 語ngứ 之chi 言ngôn
Sau đó, ông giao mấy miếng da đó cho hai kẻ làm mà bảo rằng:

好hảo 看khán 駝đà 皮bì莫mạc 使sử 濕thấp 爛lạn
"Hãy trông chừng mấy miếng da lạc đà này cho tốt. Chớ để bị ướt, bằng không nó sẽ bị thối rữa."

其kỳ 後hậu 天thiên 雨vũ二nhị 人nhân 頑ngoan 嚚ngân盡tận 以dĩ 好hảo 氎điệp覆phú 此thử 皮bì 上thượng氎điệp 盡tận 爛lạn 壞hoại皮bì 氎điệp 之chi 價giá理lý 自tự 懸huyền 殊thù以dĩ 愚ngu 癡si 故cố以dĩ 氎điệp 覆phú 皮bì
Về sau khi trời đổ mưa, hai kẻ ngu ngốc lấy một tấm thảm quý mà bọc mấy miếng da kia. Kết quả đã làm cho tấm thảm hoàn toàn hư hoại. Giá trị giữa da lạc đà và tấm thảm quý thì chênh lệch một trời một vực. Song do bởi ngu si nên họ mới lấy tấm thảm quý mà bọc.

世thế 間gian 之chi 人nhân亦diệc 復phục 如như 是thị其kỳ 不bất 殺sát 者giả喻dụ 於ư 白bạch 氎điệp其kỳ 駝đà 皮bì 者giả即tức 喻dụ 財tài 貨hóa天thiên 雨vũ 濕thấp 爛lạn喻dụ 於ư 放phóng 逸dật敗bại 壞hoại 善thiện 行hành
Nhiều người ở thế gian thì cũng như thế. Không sát sanh ví như tấm thảm quý. Da của lạc đà thì dụ cho tiền tài. Trời mưa làm ẩm ướt, mục nát, thì dụ cho sự buông lung đã phá hoại việc lành.

不bất 殺sát 戒giới 者giả即tức 佛Phật 法Pháp 身thân最tối 上thượng 妙diệu 因nhân然nhiên 不bất 能năng 修tu但đãn 以dĩ 財tài 貨hóa造tạo 諸chư 塔tháp 廟miếu供cúng 養dường 眾chúng 僧Tăng捨xả 根căn 取thủ 末mạt不bất 求cầu 其kỳ 本bổn漂phiêu 浪lãng 五ngũ 道đạo莫mạc 能năng 自tự 出xuất是thị 故cố 行hành 者giả應ưng 當đương 精tinh 心tâm持trì 不bất 殺sát 戒giới
Giới không sát sanh chính là nhân duyên vi diệu tối thượng để dẫn đến chứng đắc Pháp thân của Phật. Tiếc thay, người đời chẳng ai chịu tu. Trái lại, họ dùng tiền tài để xây tháp dựng miếu, hoặc cúng dường chư Tăng. Họ bỏ gốc lấy ngọn mà chẳng cầu bổn nguyên. Và thế là, họ trôi dạt trong năm đường mà chẳng thể tự ra khỏi. Vì vậy, người tu hành phải nên trì giới không sát sanh với lòng thanh tịnh.

四tứ 十thập 三tam磨Ma 大Đại 石Thạch 喻dụ
43. Mài Tảng Đá


譬thí 如như 有hữu 人nhân磨ma 一nhất 大đại 石thạch勤cần 加gia 功công 力lực經kinh 歷lịch 日nhật 月nguyệt作tác 小tiểu 戲hí 牛ngưu用dụng 功công 既ký 重trọng所sở 期kỳ 甚thậm 輕khinh
Thuở xưa có một người đã bỏ rất nhiều công sức đi mài một tảng đá. Năm tháng trôi qua, hắn làm được một con bò nhỏ để chơi. Tiếc thay, y đã bỏ biết bao công sức mà kết quả đạt được lại quá bé nhỏ.

世thế 間gian 之chi 人nhân亦diệc 復phục 如như 是thị磨ma 大đại 石thạch 者giả喻dụ 於ư 學học 問vấn精tinh 勤cần 勞lao 苦khổ作tác 小tiểu 牛ngưu 者giả喻dụ 於ư 名danh 聞văn互hỗ 相tương 是thị 非phi夫phù 為vi 學học 者giả研nghiên 思tư 精tinh 微vi博bác 通thông 多đa 識thức宜nghi 應ưng 履lý 行hành遠viễn 求cầu 勝thắng 果quả方phương 求cầu 名danh 譽dự憍kiêu 慢mạn 貢cống 高cao增tăng 長trưởng 過quá 患hoạn
Nhiều người ở thế gian thì cũng như thế. Mài tảng đá dụ cho sự cần cù chịu gian khổ để trau dồi học vấn. Làm được một con bò nhỏ để chơi dụ cho sự thị phi qua lại vì danh vọng. Là một vị học giả thì phải miệt mài nghiên cứu để được học thức uyên bác. Hơn nữa, họ nên dùng những lý thuyết đã học vào thực hành và cầu một kết quả thù thắng. Họ không nên cầu tiếng tăm mà kiêu căng ngã mạn, bởi đó chỉ tăng thêm hoạn nạn.

四tứ 十thập 四tứ欲Dục 食Thực 半Bán 餅Bính 喻dụ
44. Thèm Ăn Nửa Cái Bánh


譬thí 如như 有hữu 人nhân因nhân 其kỳ 飢cơ 故cố食thực 七thất 枚mai 煎tiễn 餅bính食thực 六lục 枚mai 半bán 已dĩ便tiện 得đắc 飽bão 滿mãn
Thuở xưa có một người đương lúc đói bụng, hắn thèm ăn hết bảy cái bánh nướng. Nhưng khi ăn tới phân nửa của cái bánh thứ bảy thì đã quá no.

其kỳ 人nhân 恚khuể 悔hối以dĩ 手thủ 自tự 打đả而nhi 作tác 是thị 言ngôn
Cảm thấy hối tiếc, người ấy lấy tay tát vào mặt của mình mà tự trách rằng:

我ngã 今kim 飽bão 足túc由do 此thử 半bán 餅bính然nhiên 前tiền 六lục 餅bính唐đường 自tự 捐quyên 棄khí設thiết 知tri 半bán 餅bính能năng 充sung 足túc 者giả應ưng 先tiên 食thực 之chi
"Bây giờ chỉ với nửa cái bánh này mà đã làm mình no nê. Tiếc là mình đã lãng phí sáu cái bánh trước. Nếu biết nửa cái bánh này có thể làm cho mình no vậy thì mình đã sớm ăn nó trước rồi."

世thế 間gian 之chi 人nhân亦diệc 復phục 如như 是thị從tùng 本bổn 以dĩ 來lai常thường 無vô 有hữu 樂lạc然nhiên 其kỳ 癡si 倒đảo橫hoạnh 生sanh 樂lạc 想tưởng如như 彼bỉ 癡si 人nhân於ư 半bán 番phiên 餅bính生sanh 於ư 飽bão 想tưởng
Nhiều người ở thế gian thì cũng như thế. Từ hồi nào đến giờ, họ luôn chẳng có an lạc. Nhưng do bởi ngu si điên đảo, họ lầm tưởng mà cho là vui sướng. Đây cũng như kẻ ngu kia đã nghĩ rằng, hắn no là do nửa miếng bánh.

世thế 人nhân 無vô 知tri以dĩ 富phú 貴quý 為vi 樂lạc夫phù 富phú 貴quý 者giả求cầu 時thời 甚thậm 苦khổ既ký 獲hoạch 得đắc 已dĩ守thủ 護hộ 亦diệc 苦khổ後hậu 還hoàn 失thất 之chi憂ưu 念niệm 復phục 苦khổ於ư 三tam 時thời 中trung都đô 無vô 有hữu 樂lạc猶do 如như 衣y 食thực遮già 故cố 名danh 樂lạc於ư 辛tân 苦khổ 中trung橫hoạnh 生sanh 樂lạc 想tưởng
Thế nhân vô tri. Họ cho rằng phú quý là vui sướng. Lúc chưa có, kẻ mong giàu sang phải chịu biết bao khổ nhọc. Khi đã có rồi, họ cũng sầu khổ vì phải lo canh giữ. Rồi sau khi mất chúng, họ càng khổ hơn vì tiếc nuối khôn nguôi. Suốt trong ba thời, họ đều chẳng có an lạc. Đây cũng như có người cho rằng quần áo và thức ăn là vui sướng. Vì vậy, họ ở trong nhọc nhằn mà lầm tưởng là vui sướng.

諸chư 佛Phật 說thuyết 言ngôn
Cho nên chư Phật đã dạy:

三tam 界giới 無vô 安an皆giai 是thị 大đại 苦khổ
"Khắp ba cõi không an và đều là khổ ách."

凡phàm 夫phu 倒đảo 惑hoặc橫hoạnh 生sanh 樂lạc 想tưởng
Phàm phu do điên đảo mê muội nên mới lầm tưởng mà cho là an vui.

四tứ 十thập 五ngũ奴Nô 守Thủ 門Môn 喻dụ
45. Kẻ Đầy Tớ Giữ Cửa


譬thí 如như 有hữu 人nhân將tương 欲dục 遠viễn 行hành
Thuở xưa có một người sắp phải đi xa.

勅sắc 其kỳ 奴nô 言ngôn
Ông dặn dò kẻ nô bộc rằng:

爾nhĩ 好hảo 守thủ 門môn并tinh 看khán 驢lư 索sách
"Hãy trông chừng cửa ngõ kỹ càng, cũng như trông chừng con lừa và sợi dây."

其kỳ 主chủ 行hành 後hậu時thời 隣lân 里lý 家gia有hữu 作tác 樂nhạc 者giả此thử 奴nô 欲dục 聽thính不bất 能năng 自tự 安an尋tầm 以dĩ 索sách 繫hệ門môn 置trí 於ư 驢lư 上thượng負phụ 至chí 戲hí 處xứ聽thính 其kỳ 作tác 樂nhạc奴nô 去khứ 之chi 後hậu舍xá 中trung 財tài 物vật賊tặc 盡tận 持trì 去khứ
Sau khi chủ nhà đi vắng, đúng lúc ấy ở nhà hàng xóm có âm nhạc ca xướng. Kẻ đầy tớ háo hức muốn đi nghe và gã chẳng thể nào kiềm lòng cho được. Thế là hắn buộc sợi dây vào cánh cửa, rồi bỏ lên lưng con lừa, và đèo chúng đến chỗ nhộn nhịp để nghe âm nhạc. Lúc nô bộc đi rồi, tài vật trong nhà bị giặc lấy hết trơn hết trọi.

大đại 家gia 行hành 還hoàn問vấn 其kỳ 奴nô 言ngôn
Khi chủ nhà trở về, ông hỏi hắn rằng:

財tài 寶bảo 所sở 在tại
"Tài bảo của ta đâu hết rồi?"

奴nô 便tiện 答đáp 言ngôn
Kẻ đầy tớ liền đáp rằng:

大đại 家gia 先tiên 付phó門môn 驢lư 及cập 索sách自tự 是thị 以dĩ 外ngoại非phi 奴nô 所sở 知tri
"Dạ thưa, trước đó lão gia chỉ dặn là phải canh chừng cửa ngỏ, con lừa, và sợi dây. Mấy việc khác con hoàn toàn không biết."

大đại 家gia 復phục 言ngôn
Chủ nhà lại nói rằng:

留lưu 爾nhĩ 守thủ 門môn正chánh 為vì 財tài 物vật財tài 物vật 既ký 失thất用dụng 於ư 門môn 為vi
"Ta căn dặn ngươi trông chừng cửa nẻo, cốt ý là để canh giữ tài vật. Giờ thì tài vật đã mất, ngươi còn trông giữ cánh cửa để làm gì!"

生sanh 死tử 愚ngu 人nhân為vì 愛ái 奴nô 僕bộc亦diệc 復phục 如như 是thị如Như 來Lai 教giáo 誡giới常thường 護hộ 根căn 門môn莫mạc 著trước 六lục 塵trần守thủ 無vô 明minh 驢lư看khán 於ư 愛ái 索sách而nhi 諸chư 比Bỉ 丘Khâu不bất 奉phụng 佛Phật 教giáo貪tham 求cầu 利lợi 養dưỡng詐trá 現hiện 清thanh 白bạch靜tĩnh 處xứ 而nhi 坐tọa心tâm 意ý 流lưu 馳trì貪tham 著trước 五ngũ 欲dục為vị 色sắc 聲thanh 香hương 味vị之chi 所sở 惑hoặc 亂loạn無vô 明minh 覆phú 心tâm愛ái 索sách 纏triền 縛phược正chánh 念niệm 覺giác 意ý道Đạo 品Phẩm 財tài 寶bảo悉tất 皆giai 散tán 失thất
Kẻ ngu ở chốn sanh tử, họ làm nô bộc cho ái dục thì cũng như thế. Như Lai dạy họ phải luôn canh giữ cửa của các căn và chớ dính mắc vào sáu trần. Hãy trông chừng con lừa vô minh và sợi dây ái dục. Thế nhưng có những Bhikṣu [bíc su] không vâng lời Phật dạy mà tham cầu lợi dưỡng. Họ giả vờ ngồi tĩnh tọa để tỏ ra vẻ thanh tịnh, nhưng thực tế thì tâm ý rong ruổi theo năm dục. Và thế là, họ bị sắc thanh hương vị xúc pháp não loạn, bị vô minh che mờ tâm trí, và bị sợi dây ái dục siết trói. Thế nên, chánh niệm giác ý và tài bảo của các Phẩm Trợ Đạo thảy đều tiêu mất.

四tứ 十thập 六lục偷Thâu 犛Mao 牛Ngưu 喻dụ
46. Ăn Trộm Mao Ngưu


譬thí 如như 一nhất 村thôn共cộng 偷thâu 犛mao 牛ngưu而nhi 共cộng 食thực 之chi
Thuở xưa có một nhóm người ở làng nọ cùng bắt trộm một con bò để ăn thịt.

其kỳ 失thất 牛ngưu 者giả逐trục 跡tích 至chí 村thôn喚hoán 此thử 村thôn 人nhân問vấn 其kỳ 由do 狀trạng而nhi 語ngứ 之chi 言ngôn
Người mất bò lần theo vết mà tìm đến ngôi làng đó, rồi gọi hỏi người trong ấy rằng:

爾nhĩ 在tại 此thử 村thôn
"Các người sống ở tại làng này à?"

不bất 偷thâu 者giả 對đối 曰viết
Nhóm người trộm bò trả lời:

我ngã 實thật 無vô 村thôn
"Ở đây thật chẳng có làng nào cả."

又hựu 問vấn
Lại hỏi rằng:

爾nhĩ 村thôn 中trung 有hữu 池trì在tại 此thử 池trì 邊biên共cộng 食thực 牛ngưu 不phủ
"Ở trong làng này có một cái hồ. Các người đã cùng nhau bắt ăn thịt một con bò ở cạnh bờ hồ đó phải không?

答đáp 言ngôn
Đáp rằng:

無vô 池trì
"Làm gì có hồ nào ở đây chứ."

又hựu 問vấn
Lại hỏi rằng:

池trì 傍bàng 有hữu 樹thụ 不phủ
"Ở bờ hồ có một cái cây phải không?"

對đối 言ngôn
Đáp rằng:

無vô 樹thụ
"Ở đây chẳng có cây nào hết."

又hựu 問vấn
Lại hỏi rằng:

偷thâu 牛ngưu 之chi 時thời在tại 爾nhĩ 村thôn 東đông 不phủ
"Lúc ăn trộm bò, các người đang ở bên hướng đông của ngôi làng này phải không?"

對đối 曰viết
Đáp rằng:

無vô 東đông
"Nơi này không có hướng đông."

又hựu 問vấn
Lại hỏi rằng:

當đương 爾nhĩ 偷thâu 牛ngưu非phi 日nhật 中trung 時thời 耶da
"Khi các người ăn trộm bò, lúc đó là giữa trưa đúng không?"

對đối 曰viết
Đáp rằng:

無vô 中trung
"Ở đây chẳng có giữa trưa."

又hựu 問vấn
Lại hỏi rằng:

縱túng 可khả 無vô 村thôn及cập 以dĩ 無vô 樹thụ何hà 有hữu 天thiên 下hạ無vô 東đông 無vô 時thời知tri 爾nhĩ 妄vọng 語ngữ都đô 不bất 可khả 信tín爾nhĩ 偷thâu 牛ngưu 食thực 不phủ
"Cho dù có thể là không có làng và không có cây đi nữa, nhưng làm sao ở dưới thiên hạ này mà lại không có phương hướng và thời gian? Đây rõ ràng là các người đang nói dối. Tôi quyết không tin đâu. Vậy rốt cuộc là các người có trộm con bò của tôi để ăn thịt hay không?"

對đối 言ngôn
Đáp rằng:

實thật 食thực
"Vâng, thật sự chúng tôi đã ăn thịt con bò của anh."

破phá 戒giới 之chi 人nhân亦diệc 復phục 如như 是thị覆phú 藏tàng 罪tội 過quá不bất 肯khẳng 發phát 露lộ死tử 入nhập 地địa 獄ngục諸chư 天thiên 善thiện 神thần以dĩ 天thiên 眼nhãn 觀quán不bất 得đắc 覆phú 藏tàng如như 彼bỉ 食thực 牛ngưu不bất 得đắc 欺khi 拒cự
Những kẻ phá giới thì cũng như thế. Họ giấu giếm tội lỗi và chẳng chịu thừa nhận, nên khi chết họ phải vào địa ngục. Nhưng với thiên nhãn quán soi của chư thiên thiện thần, họ chẳng thể nào che giấu được. Đây cũng như nhóm người kia đã ăn thịt con bò, cuối cùng họ chẳng thể nào chối cãi vậy.

四tứ 十thập 七thất貧Bần 人Nhân 作Tác 鴛Uyên 鴦Ương 鳴Minh 喻dụ
47. Kẻ Nghèo Giả Tiếng Kêu của Chim Uyên Ương


昔tích 外ngoại 國quốc 節tiết法pháp 慶khánh 之chi 日nhật一nhất 切thiết 婦phụ 女nữ盡tận 持trì 優ưu 鉢bát 羅la 華hoa以dĩ 為vi 鬘man 飾sức
Thuở xưa ở một nước ngoài nọ, dân chúng đang ăn mừng một ngày lễ lớn của họ. Tất cả phụ nữ đều lấy hoa sen xanh cài lên tóc.

有hữu 一nhất 貧bần 人nhân其kỳ 婦phụ 語ngứ 言ngôn
Khi ấy có một cô vợ nói với anh chồng nghèo nàn của mình rằng:

爾nhĩ 若nhược 能năng 得đắc優ưu 鉢bát 羅la 華hoa來lai 用dụng 與dữ 我ngã為vì 爾nhĩ 作tác 妻thê若nhược 不bất 能năng 得đắc我ngã 捨xả 爾nhĩ 去khứ
"Nếu anh có thể tìm được hoa sen xanh về đây cho em, thì em vẫn là vợ của anh, bằng không em sẽ bỏ anh đấy."

其kỳ 夫phu 先tiên 來lai常thường 善thiện 能năng 作tác鴛uyên 鴦ương 之chi 鳴minh即tức 入nhập 王vương 池trì作tác 鴛uyên 鴦ương 鳴minh偷thâu 優ưu 鉢bát 羅la 華hoa
Trước đây, anh chồng này rất khéo có thể giả tiếng kêu của chim uyên ương. Thế là hắn lén vào trong ao của nhà vua và giả tiếng kêu của chim uyên ương để ăn cắp hoa sen xanh.

時thời 守thủ 池trì 者giả而nhi 作tác 是thị 問vấn
Chợt nghe có tiếng động, lính gác hô lớn mà hỏi rằng:

池trì 中trung 者giả 誰thùy
"Ai ở trong ao?"

而nhi 此thử 貧bần 人nhân失thất 口khẩu 答đáp 言ngôn
Kẻ nghèo này lỡ miệng trả lời:

我ngã 是thị 鴛uyên 鴦ương
"Tôi là chim uyên ương."

守thủ 者giả 捉tróc 得đắc將tương 詣nghệ 王vương 所sở而nhi 於ư 中trung 道đạo復phục 更cánh 和hòa 聲thanh作tác 鴛uyên 鴦ương 鳴minh
Lính gác liền tóm bắt và dẫn đến chỗ của vua. Trên đường đi, kẻ nghèo lại giả tiếng kêu của chim uyên ương.

守thủ 池trì 者giả 言ngôn
Lính gác mới nói rằng:

爾nhĩ 先tiên 不bất 作tác今kim 作tác 何hà 益ích
"Hồi nãy sao không kêu, giờ kêu có ích gì?"

世thế 間gian 愚ngu 人nhân亦diệc 復phục 如như 是thị終chung 身thân 殘tàn 害hại作tác 眾chúng 惡ác 業nghiệp不bất 習tập 心tâm 行hạnh使sử 令linh 調điều 善thiện
Những kẻ ngu ở thế gian thì cũng như thế. Suốt đời họ tàn hại người khác và làm những nghiệp ác. Họ chẳng chịu điều chỉnh tâm hạnh để làm việc lành.

臨lâm 命mạng 終chung 時thời方phương 言ngôn
Cho đến khi sắp mạng chung mới nói rằng:

今kim 我ngã 欲dục 得đắc 修tu 善thiện
"Bây giờ tôi muốn tu thiện."

獄ngục 卒tốt 將tương 去khứ付phó 閻Diêm 羅La 王Vương雖tuy 欲dục 修tu 善thiện亦diệc 無vô 所sở 及cập 已dĩ如như 彼bỉ 愚ngu 人nhân欲dục 到đáo 王vương 所sở作tác 鴛uyên 鴦ương 鳴minh
Thế nhưng ngục tốt vẫn lôi họ đến trước Diêm Vương. Cho dù bây giờ họ muốn tu thiện thì cũng quá trễ rồi. Đây cũng như kẻ ngu kia đã bị giải đến gặp quốc vương mà vẫn giả tiếng kêu của chim uyên ương vậy.

四tứ 十thập 八bát野Dã 干Can 為Vị 折Chiết 樹Thụ 枝Chi 所Sở 打Đả 喻dụ
48. Dã Can Bị Nhánh Cây Gãy Rớt Trúng


譬thí 如như 野dã 干can在tại 於ư 樹thụ 下hạ風phong 吹xuy 枝chi 折chiết墮đọa 其kỳ 脊tích 上thượng即tức 便tiện 閉bế 目mục不bất 欲dục 看khán 樹thụ捨xả 棄khí 而nhi 走tẩu到đáo 于vu 露lộ 地địa乃nãi 至chí 日nhật 暮mộ亦diệc 不bất 肯khẳng 來lai
Thuở xưa có một con dã can nằm nghỉ ở dưới gốc cây. Khi làn gió thổi qua, cành cây rớt trúng trên lưng của nó. Con dã can liền nhắm mắt và chẳng muốn nhìn cây nữa. Sau đó, nó bỏ đi đến chỗ đất trống và cho đến trời sập tối nó cũng chẳng thèm trở lại.

遙diêu 見kiến 風phong 吹xuy大đại 樹thụ 枝chi 柯kha動động 搖dao 上thượng 下hạ
Khi ấy từ nơi xa xa, con dã can thấy gió thổi cành lá của cây to kia dao động lên xuống.

便tiện 言ngôn
Thế là nó liền bảo rằng:

喚hoán 我ngã 尋tầm 來lai 樹thụ 下hạ
"A, chắc là cây đang gọi mình trở về đó!"

愚ngu 癡si 弟đệ 子tử亦diệc 復phục 如như 是thị已dĩ 得đắc 出xuất 家gia得đắc 近cận 師sư 長trưởng以dĩ 小tiểu 呵ha 責trách即tức 便tiện 逃đào 走tẩu復phục 於ư 後hậu 時thời遇ngộ 惡ác 知tri 識thức惱não 亂loạn 不bất 已dĩ方phương 還hoàn 所sở 去khứ如như 是thị 去khứ 來lai是thị 為vi 愚ngu 惑hoặc
Những đệ tử ngu si thì cũng như thế. Sau khi đã xuất gia, họ được gần gũi với bậc sư trưởng. Nhưng chỉ với sự quở trách nho nhỏ, họ lập tức bỏ đi. Thời gian sau, họ gặp phải kẻ xấu ác và bị chúng não loạn không ngừng. Tới lúc đó, họ mới nghĩ quay về. Đi đi về về như vậy thật là ngu muội.

四tứ 十thập 九cửu小Tiểu 兒Nhi 爭Tranh 分Phân 別Biệt 毛Mao 喻dụ
49. Con Nít Tranh Luận về Chùm Lông


譬thí 如như 昔tích 日nhật有hữu 二nhị 小tiểu 兒nhi入nhập 河hà 遨ngao 戲hí於ư 此thử 水thủy 底để得đắc 一nhất 把bả 毛mao
Thuở xưa có hai đứa bé lặn xuống sông vui chơi. Ở dưới đáy sông, chúng lấy được một chùm lông.

一nhất 小tiểu 兒nhi 言ngôn
Một đứa trẻ nói rằng:

此thử 是thị 仙tiên 鬚tu
"Đây là râu của ông tiên."

一nhất 小tiểu 兒nhi 言ngôn
Đứa trẻ khác bảo:

此thử 是thị 羆bi 毛mao
"Đây là lông của con gấu."

爾nhĩ 時thời 河hà 邊biên有hữu 一nhất 仙tiên 人nhân此thử 二nhị 小tiểu 兒nhi諍tranh 之chi 不bất 已dĩ詣nghệ 彼bỉ 仙tiên 所sở決quyết 其kỳ 所sở 疑nghi而nhi 彼bỉ 仙tiên 人nhân尋tầm 即tức 取thủ 米mễ及cập 胡hồ 麻ma 子tử口khẩu 中trung 含hàm 嚼tước吐thổ 著trước 掌chưởng 中trung
Lúc bấy giờ ở ven sông có một tiên nhân. Do cứ tranh cãi không ngừng, thế nên hai đứa trẻ này đến chỗ của vị tiên nhân kia để giải trừ nghi ngờ. Khi ấy, vị tiên nhân kia liền lấy ít gạo và hạt mè bỏ vào trong miệng nhai, rồi nhổ vào trong tay.

語ngứ 小tiểu 兒nhi 言ngôn
Ông bảo bọn trẻ rằng:

我ngã 掌chưởng 中trung 者giả似tự 孔khổng 雀tước 屎thỉ
"Đồ ở trong tay ta giống hệt như là phân của con công đó."

而nhi 此thử 仙tiên 人nhân不bất 答đáp 他tha 問vấn人nhân 皆giai 知tri 之chi
Bởi vậy ai cũng biết rằng, vị tiên nhân này đã không trả lời câu hỏi được đặt ra.

世thế 間gian 愚ngu 人nhân亦diệc 復phục 如như 是thị說thuyết 法Pháp 之chi 時thời戲hí 論luận 諸chư 法pháp不bất 答đáp 正chánh 理lý如như 彼bỉ 仙tiên 人nhân不bất 答đáp 所sở 問vấn為vị 一nhất 切thiết 人nhân之chi 所sở 嗤xuy 笑tiếu浮phù 漫mạn 虛hư 說thuyết亦diệc 復phục 如như 是thị
Những kẻ ngu ở thế gian thì cũng như thế. Khi bàn luận giáo Pháp, họ hí luận các pháp và không trả lời đúng chân lý. Đây cũng như vị tiên nhân kia đã không trả lời câu hỏi được đặt ra và phải bị mọi người cười chê. Nói khoác lác hư ngụy thì cũng vậy.

五ngũ 十thập醫Y 治Trị 脊Tích 僂Lũ 喻dụ
50. Thầy Thuốc Chữa Trị Gù Lưng


譬thí 如như 有hữu 人nhân卒thốt 患hoạn 脊tích 僂lũ請thỉnh 醫y 療liệu 之chi醫y 以dĩ 酥tô 塗đồ上thượng 下hạ 著trước 板bản用dụng 力lực 痛thống 壓áp不bất 覺giác 雙song 目mục一nhất 時thời 併tinh 出xuất
Thuở xưa có một người thình lình bị gù lưng và đến xin thầy thuốc chữa trị. Trước tiên, thầy thuốc thoa dầu vào chỗ lưng gù, rồi lấy hai miếng gỗ kẹp lại chỗ đó và dùng sức ép thật mạnh. Ngờ đâu, việc ấy đã khiến cặp mắt của bệnh nhân lồi ra ngoài.

世thế 間gian 愚ngu 人nhân亦diệc 復phục 如như 是thị為vì 修tu 福phước 故cố治trị 生sanh 估cổ 販phán作tác 諸chư 非phi 法pháp其kỳ 事sự 雖tuy 成thành利lợi 不bất 補bổ 害hại將tương 來lai 之chi 世thế入nhập 於ư 地địa 獄ngục喻dụ 雙song 目mục 出xuất
Những kẻ ngu ở thế gian thì cũng như thế. Vì muốn giàu sang, họ dùng đủ mọi thủ đoạn phi pháp để làm ăn buôn bán. Tuy việc đó có thể sẽ thành công, nhưng tài lợi kiếm được chẳng đủ bù đắp cho việc đã tổn hại. Trong tương lai, họ sẽ đọa địa ngục. Đây cũng dụ như cặp mắt của kẻ gù lưng bị lồi ra ngoài vậy.

五ngũ 十thập 一nhất五Ngũ 人Nhân 買Mãi 婢Tỳ 共Cộng 使Sử 作Tác 喻dụ
51. Năm Người Mua Chung Một Nữ Tỳ để Cùng Sai Làm Việc


譬thí 如như 五ngũ 人nhân共cộng 買mãi 一nhất 婢tỳ
Thuở xưa có năm người mua chung một nữ tỳ.

其kỳ 中trung 一nhất 人nhân語ngứ 此thử 婢tỳ 言ngôn
Có một người trong bọn họ bảo tớ gái đó rằng:

與dữ 我ngã 浣hoán 衣y
"Hãy mang quần áo của ta đi giặt."

次thứ 有hữu 一nhất 人nhân復phục 語ngứ 浣hoán 衣y
Một người khác cũng lại bảo đi giặt quần áo.

婢tỳ 語ngứ 次thứ 者giả
Tớ gái nói với người đó rằng:

先tiên 與dữ 其kỳ 浣hoán
"Tôi sẽ giặt cho ai mang quần áo đến trước."

後hậu 者giả 恚khuể 曰viết
Kẻ đến sau nổi giận và quát rằng:

我ngã 共cộng 前tiền 人nhân同đồng 買mãi 於ư 汝nhữ云vân 何hà 獨độc 爾nhĩ
"Ta cùng với mấy người trước đồng mua ngươi về. Sao ngươi chỉ phục vụ riêng cho một người?"

即tức 鞭tiên 十thập 下hạ如như 是thị 五ngũ 人nhân各các 打đả 十thập 下hạ
Thế là liền quất mười roi. Sau đó, bốn người còn lại cũng thế. Ai nấy đều đánh tớ gái mười roi.

五ngũ 陰ấm 亦diệc 爾nhĩ煩phiền 惱não 因nhân 緣duyên合hợp 成thành 此thử 身thân而nhi 此thử 五ngũ 陰ấm恆hằng 以dĩ 生sanh 老lão 病bệnh 死tử無vô 量lượng 苦khổ 惱não搒bang 笞si 眾chúng 生sanh
Năm uẩn thì cũng vậy. Chúng là nhân duyên của phiền não và hợp lại để làm thành thân này. Thế nhưng năm uẩn này luôn quất đòn chúng sanh với vô lượng khổ não của sanh già bệnh chết.

五ngũ 十thập 二nhị伎Kỹ 兒Nhi 作Tác 樂Nhạc 喻dụ
52. Nhạc Công Khảy Đàn


譬thí 如như 伎kỹ 兒nhi王vương 前tiền 作tác 樂nhạc王vương 許hứa 千thiên 錢tiền後hậu 從tùng 王vương 索sách王vương 不bất 與dữ 之chi
Thuở xưa có một nhạc công khảy đàn ở trước quốc vương và trước đó nhà vua cũng hứa là sẽ thưởng 1.000 đồng tiền. Khi tấu xong, kẻ ấy hỏi về số tiền thưởng, nhưng nhà vua không chịu đưa.

王vương 語ngứ 之chi 言ngôn
Nhà vua bảo rằng:

汝nhữ 向hướng 作tác 樂nhạc空không 樂lạc 我ngã 耳nhĩ我ngã 與dữ 汝nhữ 錢tiền亦diệc 樂lạc 汝nhữ 耳nhĩ
"Ngươi tấu nhạc chỉ làm trẫm tạm vui một lát. Cho nên, dù trẫm cho tiền thì cũng chỉ làm ngươi tạm vui một lát mà thôi."

世thế 間gian 果quả 報báo亦diệc 復phục 如như 是thị人nhân 中trung 天thiên 上thượng雖tuy 受thọ 少thiểu 樂lạc亦diệc 無vô 有hữu 實thật無vô 常thường 敗bại 滅diệt不bất 得đắc 久cửu 住trụ如như 彼bỉ 空không 樂lạc
Quả báo của thế gian thì cũng như thế. Ở nhân gian hoặc trên trời, dù có thọ hưởng một chút vui sướng nhưng nó cũng chẳng có thật. Sự vô thường và hoại diệt thì chẳng thể nào bền lâu. Đây cũng như người tấu nhạc làm cho nhà vua tạm thoáng vui vậy.

五ngũ 十thập 三tam師Sư 患Hoạn 脚Cước 付Phó 二Nhị 弟Đệ 子Tử 喻dụ
53. Đôi Chân Đau Nhức của Sư Phụ Giao Phó cho Hai Đồ Đệ


譬thí 如như 一nhất 師sư有hữu 二nhị 弟đệ 子tử其kỳ 師sư 患hoạn 脚cước遣khiển 二nhị 弟đệ 子tử人nhân 當đương 一nhất 脚cước隨tùy 時thời 按án 摩ma其kỳ 二nhị 弟đệ 子tử常thường 相tương 憎tăng 嫉tật一nhất 弟đệ 子tử 行hành其kỳ 一nhất 弟đệ 子tử 捉tróc其kỳ 所sở 當đương 按án 摩ma 之chi 脚cước以dĩ 石thạch 打đả 折chiết彼bỉ 既ký 來lai 已dĩ忿phẫn 其kỳ 如như 是thị復phục 捉tróc 其kỳ 人nhân所sở 按án 之chi 脚cước尋tầm 復phục 打đả 折chiết
Thuở xưa có một vị thầy có hai đệ tử. Do đôi chân nhức nhối nên vị thầy sai hai đệ tử phải tùy thời xoa bóp và giao mỗi đứa một chân. Tuy nhiên hai đứa học trò này luôn ganh ghét đối phương. Một ngày nọ, nhân cơ hội đứa kia đi giải lao, đứa này liền lấy đá đập vào chân mà đứa kia đang xoa bóp. Lúc đứa đầu tiên quay lại, thấy vậy nên nổi giận và lại cầm đá đập vào chân của đứa thứ hai đang xoa bóp.

佛Phật 法Pháp 學học 徒đồ亦diệc 復phục 如như 是thị方Phương 等Đẳng 學học 者giả非phi 斥xích 小Tiểu 乘Thừa小Tiểu 乘Thừa 學học 者giả復phục 非phi 方Phương 等Đẳng故cố 使sử 大Đại 聖Thánh 法Pháp 典điển二nhị 途đồ 兼kiêm 亡vong
Có những người học Phật Pháp thì cũng như thế. Học giả Đại Thừa thì bài xích Nhị Thừa. Còn học giả Nhị Thừa thì lại bài xích Đại Thừa. Cho nên, họ khiến Đại Thánh Pháp điển của hai trường học phải suy vong.

五ngũ 十thập 四tứ蛇Xà 頭Đầu 尾Vĩ 共Cộng 爭Tranh 在Tại 前Tiền 喻dụ
54. Đầu Rắn và Đuôi Rắn Tranh Nhau ở Phía Trước


譬thí 如như 有hữu 蛇xà
Thuở xưa có một con rắn.

尾vĩ 語ngứ 頭đầu 言ngôn
Có một hôm, cái đuôi bảo đầu rắn:

我ngã 應ưng 在tại 前tiền
"Mình phải ở phía trước."

頭đầu 語ngứ 尾vĩ 言ngôn
Đầu rắn bảo đuôi rằng:

我ngã 恆hằng 在tại 前tiền何hà 以dĩ 卒thốt 爾nhĩ
"Ta luôn ở phía trước. Sao bỗng dưng lôi thôi vậy hả?"

頭đầu 果quả 在tại 前tiền其kỳ 尾vĩ 纏triền 樹thụ不bất 能năng 得đắc 去khứ放phóng 尾vĩ 在tại 前tiền即tức 墮đọa 火hỏa 坑khanh燒thiêu 爛lạn 而nhi 死tử
Nói rồi, đầu rắn vẫn thản nhiên đi về phía trước. Khi ấy đuôi rắn quấn chặt vào gốc cây và làm đầu rắn chẳng tài nào đi được. Và tới khi đuôi rắn giành đi trước, nó liền rơi xuống hầm lửa và bị thiêu chín mà chết.

師sư 徒đồ 弟đệ 子tử亦diệc 復phục 如như 是thị
Đây cũng tương tự như các trường hợp giữa thầy và trò.

言ngôn
Đệ tử nói rằng:

師sư 耆kỳ 老lão每mỗi 恆hằng 在tại 前tiền我ngã 諸chư 年niên 少thiếu應ưng 為vi 導đạo 首thủ
"Sư phụ đã già cả mà vẫn phải luôn cực nhọc chỉ dẫn. Đệ tử thì còn trẻ, thế nên hãy để cho con thống lãnh."

如như 是thị 年niên 少thiếu不bất 閑nhàn 戒giới 律luật多đa 有hữu 所sở 犯phạm因nhân 即tức 相tương 牽khiên入nhập 於ư 地địa 獄ngục
Nhưng do lớp trẻ như vậy không trì giới luật mà lại còn phạm nhiều lỗi lầm, kết quả là họ cùng kéo nhau vào địa ngục.

五ngũ 十thập 五ngũ願Nguyện 為Vi 王Vương 剃Thế 鬚Tu 喻dụ
55. Mong Được Cạo Râu cho Vua


昔tích 者giả 有hữu 王vương有hữu 一nhất 親thân 信tín於ư 軍quân 陣trận 中trung沒một 命mạng 救cứu 王vương使sử 得đắc 安an 全toàn王vương 大đại 歡hoan 喜hỷ與dữ 其kỳ 所sở 願nguyện
Thuở xưa có một quốc vương có một vị thần thân tín. Ở trong quân trận, vị thần này đã xả mạng cứu giá nên khiến nhà vua được an toàn. Khi ấy nhà vua vô cùng hoan hỷ và muốn ban thưởng.

即tức 便tiện 問vấn 言ngôn
Nhà vua liền hỏi rằng:

汝nhữ 何hà 所sở 求cầu恣tứ 汝nhữ 所sở 欲dục
"Khanh muốn cầu điều gì? Tất cả trẫm đều sẽ cho."

臣thần 便tiện 答đáp 言ngôn
Vị thần liền tâu rằng:

王vương 剃thế 鬚tu 時thời願nguyện 聽thính 我ngã 剃thế
"Tâu đại vương! Khi đến lúc đại vương cần cạo râu, kính mong đại vương cho phép thần cạo."

王vương 言ngôn
Nhà vua nói rằng:

此thử 事sự 若nhược 適thích 汝nhữ 意ý聽thính 汝nhữ 所sở 願nguyện
"Nếu đây là ước nguyện của khanh, trẫm sẽ cho khanh mãn nguyện."

如như 此thử 愚ngu 人nhân世thế 人nhân 所sở 笑tiếu半bán 國quốc 之chi 治trị大đại 臣thần 輔phụ 相tướng悉tất 皆giai 可khả 得đắc乃nãi 求cầu 賤tiện 業nghiệp
Kẻ ngu như thế thật đáng bị người thế gian chê cười. Hắn đã có thể hỏi xin nửa giang sơn để thống trị, hoặc làm đại thần hay tể tướng--tất cả đều có thể được. Thế nhưng, gã chỉ mong được làm một việc thấp hèn.

愚ngu 人nhân 亦diệc 爾nhĩ諸chư 佛Phật 於ư 無vô 量lượng 劫kiếp難nan 行hành 苦khổ 行hạnh自tự 致trí 成thành 佛Phật若nhược 得đắc 遇ngộ 佛Phật及cập 值trị 遺di 法Pháp人nhân 身thân 難nan 得đắc譬thí 如như 盲manh 龜quy值trị 浮phù 木mộc 孔khổng此thử 二nhị 難nan 值trị今kim 已dĩ 遭tao 遇ngộ然nhiên 其kỳ 意ý 劣liệt奉phụng 持trì 少thiểu 戒giới便tiện 以dĩ 為vi 足túc不bất 求cầu 涅Niết 槃Bàn勝thắng 妙diệu 法Pháp 也dã無vô 心tâm 進tiến 求cầu自tự 行hành 邪tà 事sự便tiện 以dĩ 為vi 足túc
Mấy kẻ ngu thì cũng vậy. Chư Phật đã ở trong vô lượng kiếp tu hành những khổ hạnh khó làm và sau đó mới thành Phật. Nếu ai gặp được Phật hoặc nghe được Pháp di giáo và cùng lúc có được thân người, thì cũng ví như con rùa mù mà gặp được một khúc gỗ có lỗ thủng đang trôi. Hai việc này rất khó tao ngộ, nhưng nay đã gặp được. Thế nhưng tâm ý của họ kém cỏi, phụng trì một ít giới mà cho là đủ và chẳng cầu tịch diệt. Trong lòng cũng không tiến cầu diệu Pháp thù thắng. Họ tự mình hành tà sự mà cho là đã đủ.

五ngũ 十thập 六lục索Sách 無Vô 物Vật 喻dụ
56. Đòi Cái Không


昔tích 有hữu 二nhị 人nhân道đạo 中trung 共cộng 行hành見kiến 有hữu 一nhất 人nhân將tương 胡hồ 麻ma 車xa在tại 嶮hiểm 路lộ 中trung不bất 能năng 得đắc 前tiền
Thuở xưa có hai người đang đi chung trên đường và chợt thấy có một kẻ đang hì hục đẩy cỗ xe chở hạt mè ra khỏi ổ gà, nhưng vẫn không sao ra được.

時thời 將tương 車xa 者giả語ngứ 彼bỉ 二nhị 人nhân
Khi ấy, gã kéo xe gọi hai người kia rằng:

佐tá 我ngã 推thôi 車xa出xuất 此thử 嶮hiểm 路lộ
"Xin hãy phụ tôi đẩy cỗ xe này ra khỏi ổ gà đi các anh!"

二nhị 人nhân 答đáp 言ngôn
Hai người kia hỏi rằng:

與dữ 我ngã 何hà 物vật
"Vậy anh sẽ cho cái gì?"

將tương 車xa 者giả 言ngôn
Gã kéo xe trả lời:

無vô 物vật 與dữ 汝nhữ
"Tôi sẽ cho các anh cái không!"

時thời 此thử 二nhị 人nhân即tức 佐tá 推thôi 車xa至chí 於ư 平bình 地địa
Lúc đó hai người này liền phụ đẩy cỗ xe đến chỗ đất bằng phẳng.

語ngứ 將tương 車xa 人nhân 言ngôn
Sau đó họ nói với gã kéo xe rằng:

與dữ 我ngã 物vật 來lai
"Hãy cho chúng tôi cái gì đi nào."

答đáp 言ngôn
Gã kéo xe đáp rằng:

無vô 物vật
"Chỉ có cái không thôi."

又hựu 復phục 語ngứ 言ngôn
Có một người lại nói rằng:

與dữ 我ngã 無vô 物vật
"Vậy hãy cho chúng tôi cái không đi."

二nhị 人nhân 之chi 中trung其kỳ 一nhất 人nhân 者giả含hàm 笑tiếu 而nhi 言ngôn
Ở trong hai người họ, có một người vừa cười mà nói rằng:

彼bỉ 不bất 肯khẳng 與dữ何hà 足túc 為vi 愁sầu
"Hắn đâu có thể cho được, sao phải buồn chứ?"

其kỳ 人nhân 答đáp 言ngôn
Người kia trả lời:

與dữ 我ngã 無vô 物vật必tất 應ưng 有hữu 無vô 物vật
"Hắn nói là sẽ cho chúng ta cái không. Chắc phải có cái không chứ."

其kỳ 一nhất 人nhân 言ngôn無vô 物vật 者giả二nhị 字tự 共cộng 合hợp是thị 為vi 假giả 名danh世thế 俗tục 凡phàm 夫phu若nhược 無vô 物vật 者giả便tiện 生sanh 無Vô 所Sở 有Hữu 處Xứ
Người đời nói cái không. Đó là do hai chữ ghép lại. Nó chỉ là giả danh. Nếu kẻ phàm phu thế tục chấp cái không thì sẽ sanh vào Vô Sở Hữu Xứ.

第đệ 二nhị 人nhân 言ngôn無vô 物vật 者giả即tức 是thị 無vô 相tướng無vô 願nguyện無vô 作tác
Người trí nói cái không. Đó chính là không, vô tướng, và vô nguyện.

五ngũ 十thập 七thất蹋Đạp 長Trưởng 者Giả 口Khẩu 喻dụ
57. Đạp Mòm Ông Trưởng Giả


昔tích 有hữu 大đại 富phú 長trưởng 者giả左tả 右hữu 之chi 人nhân欲dục 取thủ 其kỳ 意ý皆giai 盡tận 恭cung 敬kính長trưởng 者giả 唾thóa 時thời左tả 右hữu 侍thị 人nhân以dĩ 脚cước 蹋đạp 卻khước有hữu 一nhất 人nhân 愚ngu 者giả不bất 及cập 得đắc 蹋đạp
Thuở xưa có một đại phú trưởng giả. Những kẻ đi theo vì muốn lấy lòng nên đều hết mực cung kính. Hễ khi ông trưởng giả khạc nhổ, mấy kẻ ở cạnh liền dùng chân chà lên. Trong số đó cũng có một kẻ ngu đi theo, nhưng chẳng tài nào chà kịp.

而nhi 作tác 是thị 言ngôn
Thế là hắn nghĩ như vầy:

若nhược 唾thóa 地địa 者giả諸chư 人nhân 蹋đạp 卻khước欲dục 唾thóa 之chi 時thời我ngã 當đương 先tiên 蹋đạp
"Lúc mới vừa nhổ xuống đất thì đã bị mấy kẻ kia chà rồi. Lần sau khi ngài muốn khạc nhổ, mình phải tranh thủ chà trước mới được."

於ư 是thị 長trưởng 者giả正chánh 欲dục 咳khái 唾thóa時thời 此thử 愚ngu 人nhân即tức 便tiện 舉cử 脚cước蹋đạp 長trưởng 者giả 口khẩu破phá 脣thần 折chiết 齒xỉ
Rồi đến lúc ông trưởng giả sắp khạc nhổ, kẻ ngu này liền đưa chân đạp mòm ông trưởng giả, khiến làm dập môi và gãy mấy cái răng.

長trưởng 者giả 語ngứ 愚ngu 人nhân 言ngôn
Ông trưởng giả quát kẻ ngu rằng:

汝nhữ 何hà 以dĩ 故cố蹋đạp 我ngã 脣thần 口khẩu
"Sao mày đạp vào miệng của ta hả?"

愚ngu 人nhân 答đáp 言ngôn
Kẻ ngu trả lời:

若nhược 長trưởng 者giả 唾thóa出xuất 口khẩu 落lạc 地địa左tả 右hữu 諂siểm 者giả已dĩ 得đắc 蹋đạp 去khứ我ngã 雖tuy 欲dục 蹋đạp每mỗi 常thường 不bất 及cập以dĩ 是thị 之chi 故cố唾thóa 欲dục 出xuất 口khẩu舉cử 脚cước 先tiên 蹋đạp望vọng 得đắc 汝nhữ 意ý
"Dạ thưa, khi ông vừa mới nhổ nước miếng xuống đất thì mấy kẻ nịnh cạnh bên liền chà đi mất. Tuy con muốn chà nhưng luôn luôn chẳng kịp. Cho nên con nghĩ, nếu khi ông sắp khạc nhổ mà con đưa chân đạp trước thì sẽ làm ông hài lòng biết cỡ nào."

凡phàm 物vật 須tu 時thời時thời 未vị 及cập 到đáo彊cưỡng 設thiết 功công 力lực返phản 得đắc 苦khổ 惱não以dĩ 是thị 之chi 故cố世thế 人nhân 當đương 知tri時thời 與dữ 非phi 時thời
Phàm làm việc gì thì phải biết thời điểm. Thời điểm chưa đến mà miễn cưỡng ra công sức, ngược lại sẽ chuốc lấy khổ não. Bởi vậy, người sống trên đời phải biết khi nào đúng lúc và khi nào không đúng lúc.

五ngũ 十thập 八bát二Nhị 子Tử 分Phân 財Tài 喻dụ
58. Hai Anh Em Chia Gia Tài


昔tích 摩Ma 羅La 國Quốc有hữu 一nhất 剎sát 利lợi得đắc 病bệnh 極cực 重trọng必tất 知tri 定định 死tử
Thuở xưa ở nước Lực Sĩ có một gia tộc thuộc dòng dõi quý tộc. Người cha lâm bệnh trầm trọng và biết nhất định sẽ chết.

誡giới 勅sắc 二nhị 子tử
Ông căn dặn hai đứa con:

我ngã 死tử 之chi 後hậu善thiện 分phân 財tài 物vật
"Sau khi cha chết, hai con hãy khéo phân chia tài sản cho công bằng."

二nhị 子tử 隨tùy 教giáo於ư 其kỳ 死tử 後hậu分phân 作tác 二nhị 分phần兄huynh 言ngôn 弟đệ 分phân 不bất 平bình
Sau khi người cha qua đời, hai đứa con vâng lời dạy và chia làm hai phần. Thế nhưng người anh phàn nàn là đứa em đã phân chia không công bằng.

爾nhĩ 時thời 有hữu 一nhất 愚ngu 老lão 人nhân 言ngôn
Lúc bấy giờ có một lão già hồ đồ xúi bậy rằng:

教giáo 汝nhữ 分phân 物vật使sử 得đắc 平bình 等đẳng現hiện 所sở 有hữu 物vật破phá 作tác 二nhị 分phần云vân 何hà 破phá 之chi所sở 謂vị 衣y 裳thường 中trung割cát 作tác 二nhị 分phần槃bàn 瓶bình 亦diệc 復phục 中trung破phá 作tác 二nhị 分phần所sở 有hữu 瓫bồn 瓨giang亦diệc 破phá 作tác 二nhị 分phần錢tiền 亦diệc 破phá 作tác 二nhị 分phần如như 是thị 一nhất 切thiết所sở 有hữu 財tài 物vật盡tận 皆giai 破phá 之chi而nhi 作tác 二nhị 分phần
"Ta sẽ dạy cậu làm sao phân chia cho công bằng. Các tài vật hiện giờ, cậu hãy phá làm hai phần. Phải phá làm thế nào? Ví dụ, y phục thì cắt làm đôi. Mâm đựng chai lọ cũng đập vỡ ra làm đôi. Có bao nhiêu chén bát thì cũng đập vỡ ra làm đôi. Tiền cũng xé ra làm đôi. Tất cả mọi tài vật khác như thế cũng đều phá ra làm đôi như vậy."

如như 是thị 分phân 物vật人nhân 所sở 嗤xuy 笑tiếu
Cách phân chia tài vật như thế thật đáng bị người chê cười.

如như 諸chư 外ngoại 道đạo偏thiên 修tu 分Phân 別Biệt 論Luận
Đây cũng như có hàng ngoại đạo chỉ nghiêng tu về Phân Biệt Đáp Luận Môn để trả lời cho mọi câu hỏi.

論luận 門môn 有hữu 四tứ 種chủng
Thế nhưng luận môn có bốn loại:

有hữu 決Quyết 定Định 答Đáp 論Luận 門Môn譬thí 如như 人nhân 一nhất 切thiết 有hữu 皆giai 死tử此thử 是thị 決Quyết 定Định 答Đáp 論Luận 門Môn
[1] Quyết Định Đáp Luận Môn, tức trả lời tuyệt đối. Ví dụ: “Tất cả mọi người đều phải chết.”

死tử 者giả 必tất 有hữu 生sanh是thị 應ưng 分phân 別biệt 答đáp愛ái 盡tận 者giả 無vô 生sanh有hữu 愛ái 必tất 有hữu 生sanh是thị 名danh 分Phân 別Biệt 答Đáp 論Luận 門Môn
[2] Phân Biệt Đáp Luận Môn, tức trả lời riêng rẽ. Ví dụ, nếu có ai hỏi rằng: “Người chết sẽ thọ sanh hay không?” Câu hỏi này nên trả lời riêng rẽ như vầy: “Ai đã tận trừ ái dục thì sẽ không còn sanh; ai có ái dục thì ắt phải thọ sanh.”

有hữu 問vấn人nhân 為vi 最tối 勝thắng 不phủ應ưng 反phản 問vấn 言ngôn汝nhữ 問vấn 三tam 惡ác 道đạo為vi 問vấn 諸chư 天thiên若nhược 問vấn 三tam 惡ác 道đạo人nhân 實thật 為vi 最tối 勝thắng若nhược 問vấn 於ư 諸chư 天thiên人nhân 必tất 為vi 不bất 如như如như 是thị 等đẳng 義nghĩa名danh 反Phản 問Vấn 答Đáp 論Luận 門Môn
[3] Phản Vấn Đáp Luận Môn, tức đảo ngược câu hỏi và câu trả lời. Ví dụ, nếu có ai hỏi rằng: “Loài người có phải là tối thắng không?” Câu hỏi này có thể hỏi ngược như sau: “Anh hỏi đối với ba đường ác hay là chư thiên? Nếu hỏi đối với ba đường ác, thì loài người đích thật là tối thắng; nhưng nếu hỏi đối với chư thiên, thì loài người quả thật chẳng bằng.”

若nhược 問vấn 十thập 四tứ 難nan若nhược 問vấn世thế 界giới 及cập 眾chúng 生sanh有hữu 邊biên 無vô 邊biên有hữu 終chung 始thỉ 無vô 終chung 始thỉ如như 是thị 等đẳng 義nghĩa名danh 置Trí 答Đáp 論Luận 門Môn
[4] Trí Đáp Luận Môn, tức không trả lời câu hỏi. Ví dụ, nếu có ai hỏi một trong 14 loại câu hỏi khó, như là: “Thế giới có giới hạn hay không giới hạn, hoặc chúng sanh có thỉ có chung hay vô thỉ vô chung?”

諸chư 外ngoại 道đạo 愚ngu 癡si自tự 以dĩ 為vi 智trí 慧tuệ破phá 於ư 四tứ 種chủng 論luận作tác 一nhất 分Phân 別Biệt 論Luận喻dụ 如như 愚ngu 人nhân分phân 錢tiền 物vật 破phá錢tiền 為vi 兩lưỡng 叚giả
Hàng ngoại đạo ngu si nhưng tự cho có trí tuệ. Họ phá chia bốn loại luận môn ra mà chỉ dùng độc nhất Phân Biệt Đáp Luận Môn. Đây cũng như kẻ ngu bày cách phân chia tài sản, bằng cách phá chúng ra làm đôi vậy.

五ngũ 十thập 九cửu觀Quan 作Tác 瓶Bình 喻dụ
59. Xem Cách Làm Lọ Gốm


譬thí 如như 二nhị 人nhân至chí 陶đào 師sư 所sở觀quan 其kỳ 蹋đạp 輪luân而nhi 作tác 瓦ngõa 瓶bình看khán 無vô 厭yếm 足túc一nhất 人nhân 捨xả 去khứ往vãng 至chí 大đại 會hội極cực 得đắc 美mỹ 饍thiện又hựu 獲hoạch 珍trân 寶bảo一nhất 人nhân 觀quan 瓶bình
Thuở xưa có hai người đi ngang qua chỗ của người thợ gốm và thấy chân họ đạp xoay bánh, còn tay thì nặn uốn lọ gốm. Hai người đó nhìn hoài mà không chán. Hồi lâu sau, một người phải rời khỏi để đi dự đại hội. Người ấy không những được dùng các món ngon tuyệt hảo mà còn được tặng trân bảo. Người kia thì ở lại để xem cách làm lọ gốm.

而nhi 作tác 是thị 言ngôn
Hắn thầm nghĩ:

待đãi 我ngã 看khán 訖ngật
"Mình phải ráng đợi xem cho đến khi làm xong."

如như 是thị 漸tiệm 冉nhiễm乃nãi 至chí 日nhật 沒một觀quan 瓶bình 不bất 已dĩ失thất 於ư 衣y 食thực
Và dần dần như thế, hắn ngồi xem cho đến khi mặt trời lặn mà cái lọ vẫn chưa làm xong. Y đã bỏ lỡ các món ngon và trân bảo đáng được có.

愚ngu 人nhân 亦diệc 爾nhĩ修tu 理lý 家gia 務vụ不bất 覺giác 非phi 常thường
Đây cũng như mấy kẻ ngu. Họ lo bận bịu việc nhà mà chẳng biết gì về lẽ vô thường.

今kim 日nhật 營doanh 此thử 事sự
明minh 日nhật 造tạo 彼bỉ 業nghiệp
諸chư 佛Phật 大đại 龍long 出xuất
雷lôi 音âm 遍biến 世thế 間gian

Hôm nay tính việc này
Ngày mai tạo nghiệp kia
Chư Phật rồng lớn hiện
Tiếng sấm rền thế gian

法Pháp 雨vũ 無vô 障chướng 礙ngại
緣duyên 事sự 故cố 不bất 聞văn
不bất 知tri 死tử 卒thốt 至chí
失thất 此thử 諸chư 佛Phật 會hội

Mưa Pháp không chướng ngại
Vướng duyên nên chẳng nghe
Chẳng biết chết ập đến
Bỏ lỡ chư Phật hội

不bất 得đắc 法Pháp 珍trân 寶bảo
常thường 處xứ 惡ác 道đạo 窮cùng
背bội 棄khí 放phóng 正Chánh 法Pháp

Không được Pháp trân bảo
Luôn ở đường ác khổ
Từ bỏ rời Chánh Pháp

彼bỉ 觀quan 緣duyên 事sự 瓶bình
終chung 常thường 無vô 竟cánh 已dĩ
是thị 故cố 失thất 法Pháp 利lợi
永vĩnh 無vô 解giải 脫thoát 時thời

Do xem lọ gốm kia
Đến cuối chẳng được gì
Cho nên mất Pháp lợi
Vĩnh viễn không giải thoát

六lục 十thập見Kiến 水Thủy 底Để 金Kim 影Ảnh 喻dụ
60. Thấy Bóng Vàng Dưới Đáy Nước


昔tích 有hữu 癡si 人nhân往vãng 大đại 池trì 所sở見kiến 水thủy 底để 影ảnh有hữu 真chân 金kim 像tượng
Thuở xưa có một chàng ngốc đi đến một cái ao lớn và chợt thấy bóng vàng ròng ở dưới đáy nước.

謂vị 呼hô
Hắn liền hô:

有hữu 金kim
"Có vàng!"

即tức 入nhập 水thủy 中trung撓nạo 泥nê 求cầu 覓mịch疲bì 極cực 不bất 得đắc還hoàn 出xuất 復phục 坐tọa須tu 臾du 水thủy 清thanh又hựu 現hiện 金kim 色sắc復phục 更cánh 入nhập 裏lý撓nạo 泥nê 更cánh 求cầu 覓mịch亦diệc 復phục 不bất 得đắc其kỳ 如như 是thị 父phụ 覓mịch 子tử
Thế là hắn liền nhảy xuống nước và khuấy bùn tìm kiếm. Hắn lục lạo một hồi đến mệt lả người mà chẳng thấy gì, nên đành trở lên bờ và ngồi ở chỗ cũ. Một lát sau, nước trong như cũ và lại hiện sắc vàng. Thế là hắn lại vào trong nước và khuấy bùn tìm một lần nữa, nhưng cũng chẳng thấy gì hết. Đến lúc này, người cha đi tìm con đã tới.

得đắc 來lai 見kiến 子tử而nhi 問vấn 子tử 言ngôn
Khi thấy con mình như thế, ông hỏi đứa con rằng:

汝nhữ 何hà 所sở 作tác疲bì 困khốn 如như 是thị
"Con làm gì mà mệt nhoài ra thế?"

子tử 白bạch 父phụ 言ngôn
Đứa con thưa với cha rằng:

水thủy 底để 有hữu 真chân 金kim我ngã 時thời 投đầu 水thủy欲dục 撓nạo 泥nê 取thủ疲bì 極cực 不bất 得đắc
"Ở dưới đáy nước có vàng ròng đó cha. Nãy giờ con lặn xuống nước và khuấy bùn tìm đến mệt lả người nhưng cũng chẳng thấy gì."

父phụ 看khán 水thủy 底để真chân 金kim 之chi 影ảnh而nhi 知tri 此thử 金kim在tại 於ư 樹thụ 上thượng所sở 以dĩ 知tri 之chi影ảnh 現hiện 水thủy 底để
Khi nhìn xuống đáy nước, người cha thấy cái bóng vàng ròng. Ông biết rằng số vàng này nằm ở trên cây, còn ở dưới đáy nước chỉ là bóng hiện mà thôi.

其kỳ 父phụ 言ngôn 曰viết
Người cha bảo:

必tất 飛phi 鳥điểu 銜hàm 金kim著trước 於ư 樹thụ 上thượng
"Chắc là do con chim nào đó ngậm số vàng này rồi bỏ ở trên cây."

即tức 隨tùy 父phụ 語ngữ上thượng 樹thụ 求cầu 得đắc
Đứa con liền nghe theo lời cha và quả nhiên đã tìm được vàng ở trên cây.

凡phàm 夫phu 愚ngu 癡si 人nhân
無vô 智trí 亦diệc 如như 是thị
於ư 無vô 我ngã 陰ấm 中trung
橫hoạnh 生sanh 有hữu 我ngã 想tưởng
如như 彼bỉ 見kiến 金kim 影ảnh
勤cần 苦khổ 而nhi 求cầu 覓mịch
徒đồ 勞lao 無vô 所sở 得đắc

Phàm phu người ngu si
Vô trí cũng như vậy
Ở trong vô ngã uẩn
Khởi sanh có ngã tưởng
Như kẻ thấy bóng vàng
Cực nhọc mà kiếm tìm
Chuốc khổ được gì đâu

六lục 十thập 一nhất梵Phạm 天Thiên 弟Đệ 子Tử 造Tạo 物Vật 因Nhân 喻dụ
61. Đệ Tử của Phạm Thiên Muốn Tạo Vạn Vật


婆Bà 羅La 門Môn 眾chúng 皆giai 言ngôn大Đại 梵Phạm 天Thiên 王Vương是thị 世thế 間gian 父phụ能năng 造tạo 萬vạn 物vật造tạo 萬vạn 物vật 主chủ 者giả 有hữu 弟đệ 子tử言ngôn 我ngã 亦diệc 能năng 造tạo 萬vạn 物vật實thật 是thị 愚ngu 癡si自tự 謂vị 有hữu 智trí
Các Phạm Chí đều nói Đại Phạm Thiên Vương là cha của thế gian và có quyền năng sáng tạo vạn vật. Đấng sáng tạo vạn vật có một đệ tử. Anh ta nói rằng y cũng có khả năng sáng tạo vạn vật. Kẻ đó tự cho mình có trí tuệ. Thật quả là ngu si.

語ngứ 梵Phạm 天Thiên 言ngôn
Gã thưa với Phạm Thiên rằng:

我ngã 欲dục 造tạo 萬vạn 物vật
"Con muốn tạo ra vạn vật."

梵Phạm 天Thiên 王Vương 語ngứ 言ngôn
Đại Phạm Thiên Vương bảo rằng:

莫mạc 作tác 此thử 意ý汝nhữ 不bất 能năng 造tạo
"Chớ khởi ý nghĩ đó. Con không thể nào làm được."

不bất 用dụng 天thiên 語ngữ便tiện 欲dục 造tạo 物vật
Thế nhưng hắn chẳng nghe lời của Phạm Thiên và vẫn muốn tạo vạn vật.

梵Phạm 天Thiên 見kiến 其kỳ 弟đệ 子tử所sở 造tạo 之chi 物vật即tức 語ngứ 之chi 言ngôn
Sau khi thấy những vật mà kẻ đệ tử này đã tạo ra, Phạm Thiên liền bảo rằng:

汝nhữ 作tác 頭đầu 太thái 大đại作tác 項hạng 極cực 小tiểu作tác 手thủ 太thái 大đại作tác 臂tý 極cực 小tiểu作tác 脚cước 極cực 小tiểu作tác 踵chủng 極cực 大đại作tác 如như 似tự 毘tỳ 舍xá 闍xà 鬼quỷ
"Con làm cái đầu thì quá lớn mà làm cái cổ thì quá nhỏ. Lại làm bàn tay thì cực lớn mà làm cánh tay thì cực nhỏ. Còn làm cái chân thì tí ti mà gót chân thì to đùng. Tạo vật như thế với quỷ hút tinh khí có khác là bao."

以dĩ 此thử 義nghĩa 當đương 知tri各các 各các 自tự 業nghiệp 所sở 造tạo非phi 梵Phạm 天Thiên 能năng 造tạo
Cho nên thông qua nghĩa lý này thì phải hiểu rằng, nghiệp của mỗi người là do chính mình tạo chứ không phải là quyền năng của Phạm Thiên.

諸chư 佛Phật 說thuyết 法Pháp不bất 著trước 二nhị 邊biên亦diệc 不bất 著trước 斷đoạn亦diệc 不bất 著trước 常thường如như 似tự 八Bát 正Chánh 道Đạo 說thuyết 法Pháp諸chư 外ngoại 道đạo 見kiến 是thị 斷đoạn見kiến 常thường 事sự 已dĩ便tiện 生sanh 執chấp 著trước欺khi 誑cuống 世thế 間gian作tác 法pháp 形hình 像tượng所sở 說thuyết 實thật 是thị 非phi 法pháp
Chư Phật thuyết Pháp để dạy chúng sanh đừng chấp vào nhị biên: đừng chấp đoạn diệt và cũng đừng chấp thường hằng. Đạo lý này có thể tìm thấy ở Tám Chánh Đạo. Ngược lại, hàng ngoại đạo thấy cái này là đoạn diệt, cái kia là thường hằng, rồi khởi sanh chấp trước, dối gạt người thế gian, và bày vẽ làm các hình tượng. Những điều họ nói, thật chẳng đúng với Phật Pháp.

六lục 十thập 二nhị病Bệnh 人Nhân 食Thực 雉Trĩ 肉Nhục 喻dụ
62. Bệnh Nhân Ăn Thịt Chim Trĩ


昔tích 有hữu 一nhất 人nhân病bệnh 患hoạn 委ủy 篤đốc良lương 醫y 占chiêm 之chi 云vân須tu 恆hằng 食thực一nhất 種chủng 雉trĩ 肉nhục可khả 得đắc 愈dũ 病bệnh而nhi 此thử 病bệnh 者giả市thị 得đắc 一nhất 雉trĩ食thực 之chi 已dĩ 盡tận更cánh 不bất 復phục 食thực
Thuở xưa có một người bị bệnh nguy kịch. Sau khi chẩn đoán, lương y bảo rằng phải luôn ăn thịt của một loại chim trĩ nọ thì mới có thể lành. Thế là người bệnh này đến chợ và mua được một con chim trĩ. Sau khi đã ăn hết, từ đó trở đi hắn không ăn thêm nữa.

醫y 於ư 後hậu 時thời 見kiến便tiện 問vấn 之chi
Một thời gian sau, thầy thuốc đến gặp và hỏi rằng:

汝nhữ 病bệnh 愈dũ 未vị
"Bệnh của anh đã khỏi chưa?"

病bệnh 者giả 答đáp 言ngôn
Bệnh nhân trả lời:

醫y 先tiên 教giáo 我ngã恆hằng 食thực 雉trĩ 肉nhục是thị 故cố 今kim 者giả食thực 一nhất 雉trĩ 已dĩ 盡tận更cánh 不bất 敢cảm 食thực
"Trước đó ngài bảo tôi phải luôn ăn thịt chim trĩ. Cho nên sau khi đã ăn hết nguyên một con chim trĩ, tôi không còn dám ăn nữa."

醫y 復phục 語ngứ 言ngôn
Thầy thuốc lại nói rằng:

若nhược 前tiền 雉trĩ 已dĩ 盡tận何hà 不bất 更cánh 食thực汝nhữ 今kim 云vân 何hà正chánh 食thực 一nhất 雉trĩ望vọng 得đắc 愈dũ 病bệnh
"Nếu trước đó anh đã có thể ăn hết nguyên một con chim trĩ, tại sao lại không ăn tiếp chứ? Chẳng lẽ anh nghĩ rằng chỉ ăn thịt của một con chim trĩ thôi mà mong được lành bệnh à?"

一nhất 切thiết 外ngoại 道đạo亦diệc 復phục 如như 是thị聞văn 佛Phật 菩Bồ 薩Tát無vô 上thượng 良lương 醫y說thuyết 言ngôn 當đương 解giải 心tâm 識thức外ngoại 道đạo 等đẳng執chấp 於ư 常thường 見kiến便tiện 謂vị 過quá 去khứ未vị 來lai 現hiện 在tại唯duy 是thị 一nhất 識thức無vô 有hữu 遷thiên 謝tạ猶do 食thực 一nhất 雉trĩ是thị 故cố 不bất 能năng療liệu 其kỳ 愚ngu 惑hoặc煩phiền 惱não 之chi 病bệnh
Hết thảy ngoại đạo thì cũng lại như vậy. Họ nghe chư Phật và Bồ-tát là những bậc lương y vô thượng, và đã dạy rằng: hãy liễu giải cái tâm thức này. Tuy nhiên, hàng ngoại đạo vẫn chấp vào cái thấy thường hằng. Họ cho là quá khứ, hiện tại, cùng vị lai, rằng duy chỉ có tâm thức là không bao giờ đổi dời. Đây cũng như kẻ ngu chỉ ăn một con chim trĩ vậy. Thế nên, những chứng bệnh ngu muội và phiền não của họ chẳng thể nào chữa trị.

大đại 智trí 諸chư 佛Phật教giáo 諸chư 外ngoại 道đạo除trừ 其kỳ 常thường 見kiến一nhất 切thiết 諸chư 法pháp念niệm 念niệm 生sanh 滅diệt何hà 有hữu 一nhất 識thức常thường 恆hằng 不bất 變biến如như 彼bỉ 世thế 醫y教giáo 更cánh 食thực 雉trĩ而nhi 得đắc 病bệnh 愈dũ
Với đại trí tuệ, chư Phật dạy các ngoại đạo phải trừ bỏ cái thấy thường hằng của họ. Đó là bởi tất cả mọi pháp đều có sự sanh diệt trong từng niệm. Nếu vậy thì sao chỉ có riêng tâm thức là không biến đổi? Đây cũng như vị thầy thuốc thế gian kia, ông bảo phải ăn thêm thịt trĩ thì mới được lành bệnh.

佛Phật 亦diệc 如như 是thị教giáo 諸chư 眾chúng 生sanh 令linh 得đắc 解giải諸chư 法pháp 壞hoại 故cố 不bất 常thường續tục 故cố 不bất 斷đoạn即tức 得đắc 剗sản 除trừ常thường 見kiến 之chi 病bệnh
Phật cũng giống như vậy. Ngài giáo hóa các chúng sanh để khiến họ được giải thoát, và dạy rằng: các pháp có hư hoại nên chúng chẳng thường hằng, các pháp có tiếp nối nên chúng chẳng đoạn diệt. Một khi ai đã thấu hiểu thì chứng bệnh của cái thấy thường hằng sẽ lập tức diệt trừ.

六lục 十thập 三tam伎Kỹ 兒Nhi 著Trước 戲Hí 羅La 剎Sát 服Phục 共Cộng 相Tương 驚Kinh 怖Bố 喻dụ
63. Nghệ Nhân Mặc Đồ Hóa Trang Quỷ Bạo Ác Khiến Ai Nấy Hoảng Sợ


昔tích 乾Càn 陀Đà 衛Vệ 國Quốc有hữu 諸chư 伎kỹ 兒nhi因nhân 時thời 飢cơ 儉kiệm逐trục 食thực 他tha 土thổ經kinh 婆Bà 羅La 新Tân 山Sơn而nhi 此thử 山sơn 中trung素tố 饒nhiêu 惡ác 鬼quỷ食thực 人nhân 羅la 剎sát
Thuở xưa ở nước Hương Lâm có một đoàn hát. Nhân do gặp thời đói kém, họ phải bỏ đến nước khác để kiếm ăn. Trên đường đi, họ phải leo qua núi Pala [ba la]. Nhưng ở trong núi này được biết là có rất nhiều ác quỷ và quỷ bạo ác ăn thịt người.

時thời 諸chư 伎kỹ 兒nhi會hội 宿túc 山sơn 中trung山sơn 中trung 風phong 寒hàn然nhiên 火hỏa 而nhi 臥ngọa伎kỹ 人nhân 之chi 中trung有hữu 患hoạn 寒hàn 者giả着trước 彼bỉ 戲hí 本bổn羅la 剎sát 之chi 服phục向hướng 火hỏa 而nhi 坐tọa時thời 行hành 伴bạn 中trung從tùng 睡thụy 寤ngụ 者giả卒thốt 見kiến 火hỏa 邊biên有hữu 一nhất 羅la 剎sát竟cánh 不bất 諦đế 觀quán捨xả 之chi 而nhi 走tẩu遂toại 相tương 驚kinh 動động一nhất 切thiết 伴bạn 侶lữ悉tất 皆giai 逃đào 奔bôn時thời 彼bỉ 伴bạn 中trung着trước 羅la 剎sát 衣y 者giả亦diệc 復phục 尋tầm 逐trục奔bôn 馳trì 絕tuyệt 走tẩu
Do trời lúc ấy đã tối, các nghệ nhân nhóm lửa lên và cùng nằm ngủ qua đêm giữa núi rừng gió lạnh. Khoảng nửa đêm, ở trong chúng nghệ nhân có một người do quá lạnh, anh ta trùm đại đồ hóa trang giả quỷ bạo ác vào, rồi ngồi ở đống lửa để sưởi ấm. Lúc đó có một người bạn đồng hành thức dậy từ trong giấc ngủ, và bất chợt thấy ở bên đống lửa có một con quỷ bạo ác. Bởi chẳng chịu nhìn cho kỹ, anh ta hốt hoảng bỏ chạy và đã làm kinh động mọi người. Khi chợt trông thấy, ai nấy đều chạy bạt mạng. Khi ấy kẻ mặc y phục giả làm quỷ bạo ác cũng không biết chuyện gì đã xảy ra, nên hắn cũng đuổi chạy theo mọi người.

諸chư 同đồng 行hành 者giả見kiến 其kỳ 在tại 後hậu謂vị 欲dục 加gia 害hại倍bội 增tăng 惶hoàng 怖bố越việt 度độ 山sơn 河hà投đầu 赴phó 溝câu 壑hác身thân 體thể 傷thương 破phá疲bì 極cực 委ủy 頓đốn乃nãi 至chí 天thiên 明minh方phương 知tri 非phi 鬼quỷ
Khi chúng nghệ nhân nhìn thấy hình dáng kia đuổi theo ở đằng sau và cho là nó muốn gây hại, họ càng kinh sợ gấp bội. Họ băng sông vượt núi và nhảy qua hầm hố, khiến thân thể tổn thương và mệt mỏi kiệt quệ. Mãi cho đến trời sáng, họ mới biết đó không phải là quỷ.

一nhất 切thiết 凡phàm 夫phu亦diệc 復phục 如như 是thị處xứ 於ư 煩phiền 惱não飢cơ 儉kiệm 善thiện 法Pháp而nhi 欲dục 遠viễn 求cầu常thường 樂lạc 我ngã 淨tịnh無vô 上thượng 法Pháp 食thực便tiện 於ư 五ngũ 陰ấm 之chi 中trung橫hoạnh 計kế 於ư 我ngã以dĩ 我ngã 見kiến 故cố流lưu 馳trì 生sanh 死tử煩phiền 惱não 所sở 逐trục不bất 得đắc 自tự 在tại墜trụy 墮đọa 三tam 塗đồ惡ác 趣thú 溝câu 壑hác至chí 天thiên 明minh 者giả喻dụ 生sanh 死tử 夜dạ 盡tận智trí 慧tuệ 明minh 曉hiểu方phương 知tri 五ngũ 陰ấm無vô 有hữu 真chân 我ngã
Hết thảy phàm phu thì cũng như thế. Ở giữa chốn phiền não, họ đói khát Pháp lành và muốn đi xa để cầu Pháp thực vô thượng của thường lạc ngã tịnh. Tuy nhiên ở trong năm uẩn, họ bám chấp nơi ngã. Do bởi thấy chúng có ngã, họ trôi theo dòng sanh tử và bị phiền não truy đuổi. Do chẳng được tự tại, họ rớt xuống hầm hố của ba đường ác. Mãi cho đến trời sáng dụ cho đêm tối của sanh tử đã hết. Khi có trí tuệ minh liễu, thì họ mới biết rằng năm uẩn thật chẳng có ngã.

六lục 十thập 四tứ人Nhân 謂Vị 故Cố 屋Ốc 中Trung 有Hữu 惡Ác 鬼Quỷ 喻dụ
64. Mọi Người Đồn Trong Ngôi Nhà Có Ác Quỷ


昔tích 有hữu 故cố 屋ốc人nhân 謂vị 此thử 室thất常thường 有hữu 惡ác 鬼quỷ皆giai 悉tất 怖bố 畏úy不bất 敢cảm 寢tẩm 息tức時thời 有hữu 一nhất 人nhân自tự 謂vị 大đại 膽đảm
Thuở xưa có một ngôi nhà mà dân chúng đồn là ở trong đó thường có ác quỷ. Cho nên mọi người đều sợ hãi và chẳng ai dám ngủ nghỉ gì ở trong ngôi nhà đó. Bấy giờ có một người khoe là mình có can đảm ghê gớm.

而nhi 作tác 是thị 言ngôn
Gã nói rằng:

我ngã 欲dục 入nhập 此thử 室thất 中trung寄ký 臥ngọa 一nhất 宿túc
"Tôi muốn ngủ một đêm ở trong ngôi nhà đó."

即tức 入nhập 宿túc 止chỉ後hậu 有hữu 一nhất 人nhân自tự 謂vị 膽đảm 勇dũng勝thắng 於ư 前tiền 人nhân復phục 聞văn 傍bàng 人nhân言ngôn 此thử 室thất 中trung恆hằng 有hữu 惡ác 鬼quỷ即tức 欲dục 入nhập 中trung排bài 門môn 將tương 前tiền時thời 先tiên 入nhập 者giả謂vị 其kỳ 是thị 鬼quỷ即tức 復phục 推thôi 門môn遮già 不bất 聽thính 前tiền在tại 後hậu 來lai 者giả復phục 謂vị 有hữu 鬼quỷ二nhị 人nhân 鬪đấu 諍tranh遂toại 至chí 天thiên 明minh既ký 相tương 覩đổ 已dĩ方phương 知tri 非phi 鬼quỷ
Ngay tối ấy, y vào ngôi nhà đó để ngủ. Tình cờ trong ngày ấy cũng có một người khác. Anh ta cho mình còn dũng cảm hơn cả người trước nữa. Sau khi nghe mọi người đồn là ở trong ngôi nhà đó luôn có ác quỷ, hắn cũng muốn vào trong đó. Tối hôm ấy, trong lúc gã đang đẩy cửa trước để vào, thì lúc bấy giờ, kẻ vào trước cho là quỷ nên liền đè cửa lại. Kẻ đến sau không mở cửa được nên càng tin chắc là quỷ. Thế là hai người này cứ giằng co mãi cho đến khi trời sáng, rồi mới thấy đối phương chẳng phải là quỷ.

一nhất 切thiết 世thế 人nhân亦diệc 復phục 如như 是thị因nhân 緣duyên 暫tạm 會hội無vô 有hữu 宰tể 主chủ一nhất 一nhất 推thôi 析tích誰thùy 是thị 我ngã 者giả然nhiên 諸chư 眾chúng 生sanh橫hoạnh 計kế 是thị 非phi強cưỡng 生sanh 諍tranh 訟tụng如như 彼bỉ 二nhị 人nhân等đẳng 無vô 差sai 別biệt
Hết thảy người đời thì cũng như thế. Do nhân duyên hội đủ nên mới tạm được thân này, nhưng thật ra nó chẳng phải là ông chủ. Hãy phân tích tỉ mỉ, cái ngã này là ai? Tuy nhiên, do các chúng sanh suy tính đúng sai nên mới khởi sanh tranh tụng. Đây cũng như hai kẻ kia vậy--không chút sai khác.

六lục 十thập 五ngũ五Ngũ 百Bách 歡Hoan 喜Hỷ 丸Hoàn 喻dụ
65. 500 Viên Thuốc Bổ Dưỡng


昔tích 有hữu 一nhất 婦phụ荒hoang 婬dâm 無vô 度độ欲dục 情tình 既ký 盛thịnh嫉tật 惡ố 其kỳ 夫phu每mỗi 思tư 方phương 策sách規quy 欲dục 殘tàn 害hại種chủng 種chủng 設thiết 計kế不bất 得đắc 其kỳ 便tiện會hội 值trị 其kỳ 夫phu聘sính 使sử 隣lân 國quốc婦phụ 密mật 為vi 計kế造tạo 毒độc 藥dược 丸hoàn欲dục 用dụng 害hại 夫phu
Thuở xưa có một người đàn bà hoang dâm vô độ. Chẳng những lòng dâm dục hẫy hừng mà còn rất căm ghét chồng mình. Mỗi ngày, người đàn bà này đều nghĩ mọi mưu kế để giết chồng, song thảy đều thất bại. Đúng lúc người chồng được sai đến nước láng giềng để làm sứ giả, người đàn bà này âm thầm mưu tính và làm những viên thuốc độc để hòng giết hại chồng.

詐trá 語ngứ 夫phu 言ngôn
Bà nói lời phỉnh gạt với chồng rằng:

爾nhĩ 今kim 遠viễn 使sử慮lự 有hữu 乏phạp 短đoản今kim 我ngã 造tạo 作tác五ngũ 百bách 歡hoan 喜hỷ 丸hoàn用dụng 為vi 資tư 糧lương以dĩ 送tống 於ư 爾nhĩ爾nhĩ 若nhược 出xuất 國quốc至chí 他tha 境cảnh 界giới飢cơ 困khốn 之chi 時thời乃nãi 可khả 取thủ 食thực
"Nay anh phải đi xa, em lo anh sẽ bị thiếu thốn. Hôm nay em đã làm xong 500 viên thuốc bổ dưỡng. Anh hãy mang theo để làm tư lương. Nếu trong lúc anh trên đường đến nơi tha phương mà cảm thấy đói bụng, thì anh nhớ lấy ăn nhé."

夫phu 用dụng 其kỳ 言ngôn至chí 他tha 界giới 已dĩ未vị 及cập 食thực 之chi於ư 夜dạ 闇ám 中trung止chỉ 宿túc 林lâm 間gian畏úy 懼cụ 惡ác 獸thú上thượng 樹thụ 避tị 之chi其kỳ 歡hoan 喜hỷ 丸hoàn忘vong 置trí 樹thụ 下hạ即tức 以dĩ 其kỳ 夜dạ值trị 五ngũ 百bách 偷thâu 賊tặc盜đạo 彼bỉ 國quốc 王vương五ngũ 百bách 疋thất 馬mã并tinh 及cập 寶bảo 物vật來lai 止chỉ 樹thụ 下hạ由do 其kỳ 逃đào 突đột盡tận 皆giai 飢cơ 渴khát於ư 其kỳ 樹thụ 下hạ見kiến 歡hoan 喜hỷ 丸hoàn諸chư 賊tặc 取thủ 已dĩ各các 食thực 一nhất 丸hoàn藥dược 毒độc 氣khí 盛thịnh五ngũ 百bách 群quần 賊tặc一nhất 時thời 俱câu 死tử
Người chồng nghe lời và mang theo. Mặc dù đã đi qua biên giới nhưng người chồng vẫn chưa ăn viên nào. Lúc ấy là vào giữa đêm tối ở trong rừng, anh ta sợ có thú dữ nên đã leo lên cây và nghỉ đêm ở trên đó, nhưng lại bỏ quên bao thuốc bổ dưỡng ở dưới gốc cây. Ngẫu nhiên cũng ở đêm đó, có 500 tên cướp đã trộm 500 con ngựa cùng vật báu từ quốc vương của nước kia, rồi cũng dừng nghỉ ngay ở dưới gốc cây này. Do bọn cướp bỏ chạy gấp rút nên ai nấy đều đói khát và kiệt sức. Khi thấy ở dưới gốc cây có bao thuốc bổ dưỡng, bọn giặc cướp chia mỗi đứa một viên và lấy ăn. Do độc tánh của thuốc cực mạnh nên chẳng mấy chốc, 500 tên giặc đều thiệt mạng.

時thời 樹thụ 上thượng 人nhân至chí 天thiên 明minh 已dĩ見kiến 此thử 群quần 賊tặc死tử 在tại 樹thụ 下hạ詐trá 以dĩ 刀đao 箭tiễn斫chước 射xạ 死tử 屍thi收thu 其kỳ 鞍yên 馬mã并tinh 及cập 財tài 寶bảo驅khu 向hướng 彼bỉ 國quốc
Lúc trời sáng, khi người leo ngủ trên cây thấy bọn giặc đã chết ở dưới cây, anh ta dùng xảo kế, bằng cách lấy đao chém và lấy tên đâm vào tử thi. Sau đó, anh ta chất tài bảo lên lưng ngựa và dẫn chúng đi về hướng của nước kia.

時thời 彼bỉ 國quốc 王vương多đa 將tương 人nhân 眾chúng案án 迹tích 來lai 逐trục
Trong khi ấy, quốc vương của nước kia dẫn theo rất nhiều binh lính và lần theo manh mối để truy bắt bọn cướp.

會hội 於ư 中trung 路lộ值trị 於ư 彼bỉ 王vương彼bỉ 王vương 問vấn 言ngôn
Khi gặp người ấy ở giữa đường, nhà vua hỏi rằng:

爾nhĩ 是thị 何hà 人nhân何hà 處xứ 得đắc 馬mã
"Ngươi là ai? Ngươi từ đâu mà có bầy ngựa này?"

其kỳ 人nhân 答đáp 言ngôn
Người kia tâu rằng:

我ngã 是thị 某mỗ 國quốc 人nhân而nhi 於ư 道đạo 路lộ值trị 此thử 群quần 賊tặc共cộng 相tương 斫chước 射xạ五ngũ 百bách 群quần 賊tặc今kim 皆giai 一nhất 處xứ死tử 在tại 樹thụ 下hạ由do 是thị 之chi 故cố我ngã 得đắc 此thử 馬mã及cập 以dĩ 珍trân 寶bảo來lai 投đầu 王vương 國quốc若nhược 不bất 見kiến 信tín可khả 遣khiển 往vãng 看khán賊tặc 之chi 瘡sang 痍di殺sát 害hại 處xứ 所sở
"Muôn tâu đại vương! Thần là người ở nước ấy. Trên đường đi, thần gặp bọn giặc cướp này và đã cùng quyết chiến với chúng. Hiện giờ, 500 tên giặc đó đều đã bị thần giết chết ở dưới gốc cây kia. Do bởi vậy, thần mới có được bầy ngựa và số trân bảo này để mang trả về cho quý quốc. Nếu đại vương không tin thì có thể sai người đến tra xét chỗ mà thần đã giết bọn giặc cướp này."

王vương 時thời 即tức 遣khiển親thân 信tín 往vãng 看khán果quả 如như 其kỳ 言ngôn王vương 時thời 欣hân 然nhiên歎thán 未vị 曾tằng 有hữu
Nhà vua liền sai người thân tín để đến tra xét và họ đã tìm thấy những việc đúng như lời của người đó kể. Khi ấy, nhà vua rất vui mừng và ngợi khen là việc chưa từng có.

既ký 還hoàn 國quốc 已dĩ厚hậu 加gia 爵tước 賞thưởng大đại 賜tứ 珍trân 寶bảo封phong 以dĩ 聚tụ 落lạc
Sau khi trở về nước kia, người ấy được vua ban chức tước trọng hậu, cho nhiều trân bảo, và được phong mấy làng ấp để cai quản.

彼bỉ 王vương 舊cựu 臣thần咸hàm 生sanh 嫉tật 妬đố而nhi 白bạch 王vương 言ngôn
Tuy nhiên, những cựu thần đều sanh lòng ganh ghét và tâu với vua rằng:

彼bỉ 是thị 遠viễn 人nhân未vị 可khả 服phục 信tín如như 何hà 卒thốt 爾nhĩ寵sủng 遇ngộ 過quá 厚hậu至chí 於ư 爵tước 賞thưởng踰du 越việt 舊cựu 臣thần
"[Tâu đại vương!] Đó là người từ phương xa và không thể tin cậy. Tại sao đại vương lại vội sủng mến, thậm chí phong tước trọng thưởng còn cao quý hơn các vị cựu thần nữa?"

遠viễn 人nhân 聞văn 已dĩ而nhi 作tác 是thị 言ngôn
Khi nghe những lời tâu đó, người từ phương xa nói rằng:

誰thùy 有hữu 勇dũng 健kiện能năng 共cộng 我ngã 試thí請thỉnh 於ư 平bình 原nguyên校giáo 其kỳ 技kỹ 能năng
"Nếu ai có can đảm dám cùng với tôi so tài, thì xin hãy bước ra chỗ đất bằng phẳng. Tôi muốn được thọ giáo tài nghệ của quý vị."

舊cựu 人nhân 愕ngạc 然nhiên無vô 敢cảm 敵địch 者giả
Khi ấy những cựu thần đều hoảng hốt và chẳng một ai dám khiêu chiến cả.

後hậu 時thời 彼bỉ 國quốc大đại 曠khoáng 野dã 中trung有hữu 惡ác 師sư 子tử截tiệt 道đạo 殺sát 人nhân斷đoạn 絕tuyệt 王vương 路lộ
Về sau ở một nơi hoang dã của nước đó, có một con sư tử hung dữ giết hại người qua lại và nó đã cắt đứt tuyến đường đến vương cung.

時thời 彼bỉ 舊cựu 臣thần詳tường 共cộng 議nghị 之chi
Bấy giờ những cựu thần kia cùng thảo luận về việc này và họ nói rằng:

彼bỉ 遠viễn 人nhân 者giả自tự 謂vị 勇dũng 健kiện無vô 能năng 敵địch 者giả今kim 復phục 若nhược 能năng殺sát 彼bỉ 師sư 子tử為vì 國quốc 除trừ 害hại真chân 為vi 奇kỳ 特đặc
"Người từ phương xa kia tự cho là anh dũng và thách không ai có thể địch nổi. Nay nếu hắn có thể giết con sư tử đó để trừ hại cho quốc gia, thì mới công nhận là người kỳ đặc."

作tác 是thị 議nghị 已dĩ便tiện 白bạch 於ư 王vương王vương 聞văn 是thị 已dĩ給cấp 賜tứ 刀đao 杖trượng尋tầm 即tức 遣khiển 之chi
Khi đã bàn tính như vậy rồi, họ trình tâu lên vua. Sau khi nghe tâu xong, nhà vua ban dao gậy cho người từ phương xa và ra lệnh phải thi hành ngay.

爾nhĩ 時thời 遠viễn 人nhân既ký 受thọ 勅sắc 已dĩ堅kiên 彊cường 其kỳ 意ý向hướng 師sư 子tử 所sở師sư 子tử 見kiến 之chi奮phấn 激kích 鳴minh 吼hống騰đằng 躍dược 而nhi 前tiền遠viễn 人nhân 驚kinh 怖bố即tức 便tiện 上thượng 樹thụ師sư 子tử 張trương 口khẩu仰ngưỡng 頭đầu 向hướng 樹thụ其kỳ 人nhân 怖bố 急cấp失thất 所sở 捉tróc 刀đao值trị 師sư 子tử 口khẩu師sư 子tử 尋tầm 死tử
Khi nhận được sắc lệnh, ý chí của người từ phương xa càng vững vàng. Thế là anh ta tiến về hướng của con sư tử đang ở. Đương lúc con sư tử thấy anh ta, nó gầm hống dữ dội và phóng nhảy về phía trước. Bấy giờ người từ phương xa kinh hoàng và liền trèo lên cây. Khi ấy con sư tử há mồm và ngước đầu lên cây. Lúc đó, người kia do quá run sợ nên đã làm rớt thanh đao xuống dưới. Trùng hợp thay, thanh đao lọt ngay vào miệng của con sư tử và khiến nó chết tức khắc.

爾nhĩ 時thời 遠viễn 人nhân歡hoan 喜hỷ 踴dũng 躍dược來lai 白bạch 於ư 王vương王vương 倍bội 寵sủng 遇ngộ時thời 彼bỉ 國quốc 人nhân卒tuất 爾nhĩ 敬kính 服phục咸hàm 皆giai 讚tán 歎thán
Lúc bấy giờ người từ phương xa vui mừng hớn hở, rồi quay về bẩm báo và đã làm cho nhà vua càng kính trọng bội phần. Kể từ ấy, toàn dân chúng ở trong nước kia đều kính phục và đồng ngợi khen anh ta.


[Trong câu chuyện này:]

其kỳ 婦phụ 人nhân 歡hoan 喜hỷ 丸hoàn 者giả喻dụ 不bất 淨tịnh 施thí王vương 遣khiển 使sứ 者giả喻dụ 善Thiện 知Tri 識Thức至chí 他tha 國quốc 者giả喻dụ 於ư 諸chư 天thiên殺sát 群quần 賊tặc 者giả喻dụ 得đắc 須Tu 陀Đà 洹Hoàn強cưỡng 斷đoạn 五ngũ 欲dục并tinh 諸chư 煩phiền 惱não遇ngộ 彼bỉ 國quốc 王vương 者giả喻dụ 遭tao 值trị 賢hiền 聖thánh國quốc 舊cựu 人nhân 等đẳng生sanh 嫉tật 妬đố 者giả喻dụ 諸chư 外ngoại 道đạo見kiến 有hữu 智trí 者giả能năng 斷đoạn 煩phiền 惱não及cập 以dĩ 五ngũ 欲dục便tiện 生sanh 誹phỉ 謗báng言ngôn 無vô 此thử 事sự遠viễn 人nhân 激kích 厲lệ而nhi 言ngôn 舊cựu 臣thần無vô 能năng 與dữ 我ngã共cộng 為vi 敵địch 者giả喻dụ 於ư 外ngoại 道đạo無vô 敢cảm 抗kháng 衝xung殺sát 師sư 子tử 者giả喻dụ 破phá 魔ma既ký 斷đoạn 煩phiền 惱não又hựu 伏phục 惡ác 魔ma便tiện 得đắc 無vô 着trước道Đạo 果Quả 封phong 賞thưởng每mỗi 常thường 怖bố 怯khiếp 者giả喻dụ 能năng 以dĩ 弱nhược 而nhi 制chế 於ư 彊cường
- Những viên thuốc bổ dưỡng của người vợ, được dụ như sự bố thí bất tịnh.
- Vua sai làm sứ giả, được dụ như Thiện Tri Thức.
- Đến được nước khác, được dụ như chư thiên.
- Giết bọn giặc, được dụ như đắc Quả Nhập Lưu, bởi đã đoạn năm dục và các phiền não.
- Gặp quốc vương, được dụ như gặp được hiền thánh.
- Chúng quần thần sanh lòng đố kỵ, được dụ như các ngoại đạo khi thấy có người trí có thể đoạn trừ phiền não và năm dục, nên họ liền sanh lòng phỉ báng mà bảo rằng chẳng có việc đó.
- Người từ phương xa thách thức nhưng các cựu thần chẳng ai dám địch lại, được dụ như ngoại đạo chẳng dám kháng cự.
- Giết con sư tử, được dụ như phá chúng ma và đoạn trừ phiền não; khi chế phục ác ma thì liền được tâm không chấp trước và Đạo Quả phong thưởng.
- Thường hay khiếp sợ, được dụ như có thể lấy yếu chế mạnh.

其kỳ 於ư 初sơ 時thời雖tuy 無vô 淨tịnh 心tâm然nhiên 彼bỉ 其kỳ 施thí遇ngộ 善Thiện 知Tri 識Thức便tiện 獲hoạch 勝thắng 報báo不bất 淨tịnh 之chi 施thí猶do 尚thượng 如như 此thử況huống 復phục 善thiện 心tâm歡hoan 喜hỷ 布bố 施thí是thị 故cố 應ưng 當đương於ư 福phước 田điền 所sở勤cần 心tâm 修tu 施thí
Lúc ban đầu, mặc dù có người với tâm bất tịnh đi làm bố thí, nhưng do sự bố thí đó mà họ gặp Thiện Tri Thức nên được quả báo thù thắng. Bố thí bất tịnh mà còn được như thế, huống nữa là người với tâm lành mà hoan hỷ bố thí. Cho nên ở nơi phước điền, hãy hết lòng làm bố thí.

百Bách 喻Dụ 經Kinh 卷quyển 第đệ 三tam
Kinh Bách Dụ ♦ Hết quyển 3

尊Tôn 者giả 僧Tăng 伽Già 斯Tư 那Na 撰soạn 。 蕭Tiêu 齊Tề 天Thiên 竺Trúc 法Pháp 師sư 求Cầu 那Na 毘Tỳ 地Địa 譯dịch 。
Soạn tập: Tôn giả Chúng Quân
Dịch sang cổ văn: Pháp sư Đức Tiến (?-502)
Dịch sang tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận
Phiên âm và chấm câu: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận
Phiên âm: 26/11/2012 ◊ Dịch nghĩa: 26/11/2012 ◊ Cập nhật: 1/9/2021

Cách đọc âm tiếng Phạn

Bhikṣu: bíc su
Pala: ba la
Đang dùng phương ngữ: BắcNam