法Pháp 句Cú 譬Thí 喻Dụ 經Kinh 卷quyển 第đệ 一nhất
Kinh Pháp Cú Thí Dụ ♦ Quyển 1

無Vô 常Thường 品Phẩm 第đệ 一nhất
Phẩm 1: Vô Thường


昔tích 者giả 天Thiên 帝Đế 釋Thích五ngũ 德đức 離ly 身thân自tự 知tri 命mạng 盡tận當đương 下hạ 生sanh 世thế 間gian在tại 陶đào 作tác 家gia受thọ 驢lư 胞bào 胎thai
Thuở xưa, khi năm đức trời của Năng Thiên Đế lìa khỏi thân [và xuất hiện năm tướng suy], ngài tự biết thọ mạng sắp hết, rồi sẽ sanh xuống thế gian và thác vào thai của một con lừa ở trong nhà của một người thợ gốm.

何hà 謂vị 五ngũ 德đức
Năm tướng suy là những gì?

一nhất 者giả身thân 上thượng 光quang 滅diệt二nhị 者giả頭đầu 上thượng 華hoa 萎nuy三tam 者giả不bất 樂nhạo 本bổn 坐tọa四tứ 者giả腋dịch 下hạ 汗hãn 臭xú五ngũ 者giả塵trần 土thổ 著trước 身thân
1. ánh sáng nơi thân diệt mất
2. hoa báu trên đầu héo úa
3. không thích ngồi yên ở tòa báu
4. dưới hai nách chảy mồ hôi và bốc mùi
5. đất bụi dính nơi thân

以dĩ 此thử 五ngũ 事sự自tự 知tri 福phước 盡tận甚thậm 大đại 愁sầu 憂ưu
Với năm việc này mà Năng Thiên Đế tự biết phước của mình sắp hết. Thế nên ngài hết sức buồn bã.

自tự 念niệm
Rồi tự nghĩ thầm:

三tam 界giới 之chi 中trung濟tế 人nhân 苦khổ 厄ách唯duy 有hữu 佛Phật 耳nhĩ
"Trong ba cõi, ai có thể cứu người thoát khỏi khổ ách? Duy chỉ có Đức Phật mà thôi."

於ư 是thị 奔bôn 馳trì往vãng 到đáo 佛Phật 所sở
Và thế là, ngài liền chạy vội đến chỗ của Phật.

時thời 佛Phật 在tại 耆Kỳ 闍Xà 崛Quật 山Sơn石thạch 室thất 中trung 坐tọa 禪thiền入nhập 普Phổ 濟Tế 三Tam 昧Muội天thiên 帝đế 見kiến 佛Phật稽khể 首thủ 作tác 禮lễ伏phục 地địa 至chí 心tâm三tam 自tự 歸quy 命mạng佛Phật 法Pháp 聖thánh 眾chúng未vị 起khởi 之chi 間gian其kỳ 命mạng 忽hốt 出xuất便tiện 至chí 陶đào 家gia驢lư 母mẫu 腹phúc 中trung 作tác 子tử
Khi ấy Đức Phật đang ngồi thiền và nhập Phổ Tế Chánh Định trong một hang đá ở trên núi Thứu Phong. Khi thấy Phật, thiên đế cúi đầu, rồi đảnh lễ sát đất, và với lòng chí thành mà Quy Y Phật Pháp Tăng. Đương lúc vẫn còn chưa đứng dậy, thần thức hốt nhiên rời khỏi và liền đến nhà của một người thợ gốm, rồi vào trong bụng của một con lừa mẹ để làm con.

時thời 驢lư 自tự 解giải走tẩu 瓦ngõa 坏phôi 間gian破phá 壞hoại 坏phôi 器khí其kỳ 主chủ 打đả 之chi尋tầm 時thời 傷thương 胎thai其kỳ 神thần 即tức 還hoàn入nhập 故cố 身thân 中trung五ngũ 德đức 還hoàn 備bị
Bấy giờ con lừa mẹ tự làm cho dây cột bị lỏng ra, rồi nó chạy đến chỗ làm gốm mà phá vỡ những đồ sành. Lúc ấy, do bị ông chủ đả thương nên nó liền sẩy thai. Nhờ đó mà thần thức của Năng Thiên Đế liền trở về, rồi vào lại trong thân cũ với năm đức trời trọn đủ.

復phục 為vì 天thiên 帝đế佛Phật 三tam 昧muội 覺giác讚tán 言ngôn
Khi ấy Phật vì thiên đế mà từ chánh định dậy, rồi Ngài ngợi khen rằng:

善thiện 哉tai 天thiên 帝đế能năng 於ư 殞vẫn 命mạng 之chi 際tế歸quy 命mạng 三Tam 尊Tôn罪tội 對đối 已dĩ 畢tất不bất 更cánh 勤cần 苦khổ
"Lành thay, thiên đế! Ông đã ở khoảnh khắc cuối cùng trước khi lìa đời mà có thể Quy Y Tam Bảo. Do nghiệp tội đã hết nên ông không còn phải chịu khổ nữa."

爾nhĩ 時thời 世Thế 尊Tôn以dĩ 偈kệ 頌tụng 曰viết
Lúc bấy giờ Thế Tôn nói kệ rằng:

所sở 行hành 非phi 常thường
謂vị 興hưng 衰suy 法pháp
夫phù 生sanh 輒triếp 死tử
此thử 滅diệt 為vi 樂lạc

"Tất cả hành vô thường
Đều là pháp hưng suy
Có sanh ắt phải tử
Tịch diệt an vui nhất

譬thí 如như 陶đào 家gia
埏duyên 埴thực 作tác 器khí
一nhất 切thiết 要yếu 壞hoại
人nhân 命mạng 亦diệc 然nhiên

Ví như người thợ gốm
Trộn đất nắn làm đồ
Chúng thảy rồi vỡ nát
Mạng sống cũng như vậy"

帝Đế 釋Thích 聞văn 偈kệ知tri 無vô 常thường 之chi 要yếu達đạt 罪tội 福phước 之chi 變biến解giải 興hưng 衰suy 之chi 本bổn遵tuân 寂tịch 滅diệt 之chi 行hành歡hoan 喜hỷ 奉phụng 受thọ得đắc 須Tu 陀Đà 洹Hoàn 道Đạo
Khi nghe kệ xong, Năng Thiên Đế biết được trọng yếu của vô thường, thông đạt sự biến đổi của phước cùng tội, và hiểu rõ căn gốc của pháp hưng suy. Rồi ngài nương theo Pháp tịch diệt, hoan hỷ phụng trì, và đắc Quả Nhập Lưu.




昔tích 佛Phật 在tại 舍Xá 衛Vệ 國Quốc 精tinh 舍xá 中trung為vì 諸chư 天thiên 人nhân龍long 鬼quỷ 說thuyết 法Pháp
Thuở xưa Đức Phật ở tại Tinh xá Kỳ Viên gần thành Phong Đức để thuyết Pháp cho chư thiên, rồng, quỷ thần, và loài người.

時thời 國quốc 王vương 波Ba 斯Tư 匿Nặc 大đại 夫phu 人nhân年niên 過quá 九cửu 十thập卒thốt 得đắc 重trọng 病bệnh毉y 藥dược 望vọng 差sái遂toại 便tiện 喪táng 亡vong王vương 及cập 國quốc 臣thần如như 法pháp 葬táng 送tống遷thiên 神thần 墳phần 墓mộ葬táng 送tống 畢tất 訖ngật還hoàn 過quá 佛Phật 所sở脫thoát 服phục 跣tiển 韈vạt前tiền 禮lễ 佛Phật 足túc
Bấy giờ mẹ của vua Thắng Quân, với tuổi đã ngoài 90, bỗng hốt nhiên lâm trọng bệnh. Tất cả y dược đều không chữa khỏi, và chẳng bao lâu thì liền mạng chung. Sau đó, nhà vua cùng quần thần làm lễ chôn cất đúng như pháp. Khi linh cữu đã đưa vào phần mộ và việc mai táng cũng đã hoàn tất, nhà vua ghé qua chỗ của Phật. Lúc đến nơi, vua Thắng Quân cởi xuống tang phục và đi chân trần đến trước Phật, rồi đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật.

佛Phật 命mệnh 令linh 坐tọa而nhi 問vấn 之chi 曰viết
Phật bảo hãy ngồi xuống, rồi hỏi nhà vua rằng:

王vương 所sở 從tùng 來lai衣y 麤thô 形hình 異dị何hà 所sở 施thi 為vi 也dã
"Đại vương từ đâu đến? Sao lại mặc áo thô và hình tướng kỳ dị như thế? Đại vương đã làm những gì?"

王vương 稽khể 首thủ 曰viết
Nhà vua cúi đầu và thưa rằng:

國quốc 大đại 夫phu 人nhân年niên 過quá 九cửu 十thập間gian 得đắc 重trọng 病bệnh奄yểm 便tiện 喪táng 亡vong遣khiển 送tống 靈linh 柩cữu遷thiên 葬táng 墳phần 墓mộ今kim 始thỉ 來lai 還hoàn過quá 覲cận 聖Thánh 尊Tôn
"[Thưa Thế Tôn!] Quốc thái phu nhân đã ngoài 90 tuổi, bỗng hốt nhiên lâm trọng bệnh và liền mạng chung. Sau đó, con sai người làm lễ chôn cất và đưa linh cữu vào phần mộ. Nay mới vừa xong, nên con sẵn dịp ghé qua chỗ của Thánh Tôn."

佛Phật 告cáo 王vương 曰viết
Phật bảo nhà vua rằng:

自tự 古cổ 至chí 今kim大đại 畏úy 有hữu 四tứ
"Từ xưa đến nay, có bốn điều đáng sợ nhất.

生sanh 則tắc 老lão 枯khô病bệnh 無vô 光quang 澤trạch死tử 則tắc 神thần 去khứ親thân 屬thuộc 別biệt 離ly
[1] Có sanh tất phải già nua.
[2] Sắc lực sẽ không tươi sáng khi bị bệnh.
[3] Lúc mạng chung thì thần thức sẽ rời khỏi.
[4] Khi ấy thân thuộc phải biệt ly.

是thị 謂vị 為vi 四tứ不bất 與dữ 人nhân 期kỳ萬vạn 物vật 無vô 常thường難nan 得đắc 久cửu 居cư一nhất 日nhật 過quá 去khứ人nhân 命mạng 亦diệc 然nhiên如như 五ngũ 河hà 流lưu晝trú 夜dạ 無vô 息tức人nhân 命mạng 駛sử 疾tật亦diệc 復phục 如như 是thị
Đây là bốn điều và chúng chẳng hẹn một ai. Vạn vật vô thường và khó ai sống được dài lâu. Một ngày đã trôi qua, mạng sống cũng giảm dần. Ví như năm con sông, ngày đêm cứ chảy mãi không ngừng. Đời người vụt thoáng cũng lại như thế."

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

如như 河hà 駛sử 流lưu
往vãng 而nhi 不bất 返phản
人nhân 命mạng 如như 是thị
逝thệ 者giả 不bất 還hoàn

"Như nước sông chảy xiết
Trôi xuôi chẳng ngược dòng
Đời người cũng như thế
Qua rồi không trở lại"

佛Phật 告cáo 大đại 王vương
Phật bảo nhà vua rằng:

世thế 皆giai 有hữu 是thị無vô 長trường 存tồn 者giả皆giai 當đương 歸quy 死tử無vô 有hữu 脫thoát 者giả
"Thế gian đều là như vậy; không ai có thể sống mãi. Tất cả đều sẽ chết và chẳng một ai thoát khỏi.

往vãng 昔tích 國quốc 王vương諸chư 佛Phật 真Chân 人Nhân五ngũ 通thông 仙tiên 士sĩ亦diệc 皆giai 過quá 去khứ無vô 能năng 住trụ 者giả空không 為vi 悲bi 感cảm以dĩ 殞vẫn 軀khu 形hình夫phù 為vi 孝hiếu 子tử哀ai 愍mẫn 亡vong 者giả為vi 福phước 為vi 德đức以dĩ 歸quy 流lưu 之chi福phước 祐hựu 往vãng 追truy如như 餉hướng 遠viễn 人nhân
Các quốc vương, chư Phật và thánh nhân, cùng với những vị tiên nhân đắc năm loại thần thông ở thuở xưa, cũng đều phải ra đi và chẳng ai có thể sống mãi. Bởi vậy, đại vương chớ nên quá thương cảm mà khiến thân tâm tiều tụy. Nếu là một người con hiếu thảo và xót thương người quá cố, thì hãy tu tạo phước đức, rồi hồi hướng cho họ. Phước ấy sẽ như tư lương được gửi cho người đi xa mang theo."

佛Phật 說thuyết 是thị 時thời王vương 及cập 群quần 臣thần莫mạc 不bất 歡hoan 喜hỷ忘vong 憂ưu 除trừ 患hoạn諸chư 來lai 一nhất 切thiết皆giai 得đắc 道Đạo 迹tích
Khi Phật nói lời ấy xong, nhà vua cùng quần thần, không ai là chẳng hoan hỷ, và nỗi sầu muộn của họ cũng được tiêu trừ. Bấy giờ, tất cả những ai đến gặp Phật thảy đều thấy dấu Đạo.




昔tích 佛Phật 在tại 羅La 閱Duyệt 祇Kỳ 竹Trúc 園Viên 中trung與dữ 諸chư 弟đệ 子tử入nhập 城thành 受thọ 請thỉnh說thuyết 法Pháp 畢tất 訖ngật晡bô 時thời 出xuất 城thành道đạo 逢phùng 一nhất 人nhân驅khu 大đại 群quần 牛ngưu放phóng 還hoàn 入nhập 城thành肥phì 飽bão 跳khiêu 騰đằng轉chuyển 相tương 觝để 觸xúc
Thuở xưa Đức Phật ở tại Tinh xá Trúc Lâm gần thành Vương Xá. Bấy giờ Thế Tôn dẫn các đệ tử vào thành thọ thỉnh. Khi đã thuyết Pháp xong, lúc đó là buổi quá trưa, Đức Phật ra khỏi thành. Ở giữa đường Ngài gặp một người đang lùa một đàn bò đông đúc trở lại vào thành. Các con bò đã được cho ăn no nê và béo phì. Chúng nhảy cẫng lên và húc chạm lẫn nhau.

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

譬thí 人nhân 操thao 杖trượng
行hành 牧mục 食tự 牛ngưu
老lão 死tử 猶do 然nhiên
亦diệc 養dưỡng 命mạng 去khứ

"Như người cầm roi trông
Chăn bò cho ăn cỏ
Già chết cũng như thế
Nuôi lớn rồi cướp đi

千thiên 百bách 非phi 一nhất
族tộc 姓tánh 男nam 女nữ
貯trữ 聚tụ 財tài 產sản
無vô 不bất 衰suy 喪táng

Trăm ngàn chẳng được một
Hào quý bất cứ ai
Tích trữ chứa tài sản
Không gì chẳng suy tàn

生sanh 者giả 日nhật 夜dạ
命mạng 自tự 攻công 削tước
壽thọ 之chi 消tiêu 盡tận
如như 𢄋oanh 䨍doanh 水thủy

Bề bộn suốt ngày đêm
Mạng sống tự giảm dần
Tuổi thọ khi tiêu hết
Như giếng khô cạn nước"

佛Phật 到đáo 竹Trúc 林Lâm洗tẩy 足túc 卻khước 坐tọa
Khi đã về lại Tinh xá Trúc Lâm, Đức Phật rửa chân, rồi ngồi xuống.

阿A 難Nan 即tức 前tiền稽khể 首thủ 問vấn 言ngôn
Lúc đó ngài Khánh Hỷ liền cúi đầu ở trước Phật và hỏi rằng:

世Thế 尊Tôn向hướng 者giả 道đạo 中trung說thuyết 此thử 三tam 偈kệ不bất 審thẩm 其kỳ 義nghĩa願nguyện 蒙mông 開khai 化hóa
"Thưa Thế Tôn! Vừa rồi ở giữa đường, Ngài đã nói ba bài kệ. Tuy nhiên, con không hiểu ý nghĩa của nó. Kính mong Thế Tôn khai thị."

佛Phật 告cáo 阿A 難Nan
Phật bảo ngài Khánh Hỷ:

汝nhữ 見kiến 有hữu 人nhân驅khu 放phóng 群quần 牛ngưu 不phủ
"Vừa rồi ông có thấy một người lùa một đàn bò chăng?"

唯dụy 然nhiên見kiến 之chi
"Dạ, con có thấy!"

佛Phật 告cáo 阿A 難Nan
Phật bảo ngài Khánh Hỷ:

此thử 屠đồ 家gia 群quần 牛ngưu本bổn 有hữu 千thiên 頭đầu屠đồ 兒nhi 日nhật 日nhật遣khiển 人nhân 出xuất 城thành求cầu 好hảo 水thủy 草thảo養dưỡng 令linh 肥phì 長trưởng擇trạch 取thủ 肥phì 者giả日nhật 牽khiên 殺sát 之chi殺sát 之chi 死tử 者giả 過quá 半bán而nhi 餘dư 者giả 不bất 覺giác方phương 相tương 觝để 觸xúc跳khiêu 騰đằng 鳴minh 吼hống傷thương 其kỳ 無vô 智trí故cố 說thuyết 偈kệ 耳nhĩ
"Đây là đàn bò của một nhà làm nghề mổ giết. Xưa vốn có 1.000 con. Mỗi ngày kẻ làm nghề mổ giết sai người lùa đàn bò ra ngoài thành để kiếm cỏ non nước ngọt mà vỗ béo chúng. Mỗi ngày họ lựa những con bò nào béo phì rồi mang đi giết. Số lượng bò bị giết đã hơn phân nửa. Thế nhưng, những con bò còn lại thì chẳng hay biết gì, nên chúng mới húc chạm lẫn nhau, nhảy cẫng lên, và kêu rống gọi bầy. Ta thương cảm chúng vô trí nên mới nói các bài kệ trên."

佛Phật 語ngứ 阿A 難Nan
Phật bảo ngài Khánh Hỷ:

何hà 但đãn 此thử 牛ngưu世thế 人nhân 亦diệc 爾nhĩ計kế 於ư 吾ngô 我ngã不bất 知tri 非phi 常thường饕thao 餮thiết 五ngũ 欲dục養dưỡng 育dục 其kỳ 身thân快khoái 心tâm 極cực 意ý更cánh 相tương 殘tàn 賊tặc無vô 常thường 宿túc 對đối卒thốt 至chí 無vô 期kỳ曚mông 曚mông 不bất 覺giác何hà 異dị 於ư 此thử 也dã
"Đâu chỉ riêng đàn bò này mà thôi! Nhiều người ở thế gian thì cũng như thế. Họ suy tính ngã nhân và chẳng biết lẽ vô thường. Họ háu ăn năm dục để nuôi dưỡng bản thân. Lòng họ khoái ý và còn tàn hại lẫn nhau. Họ không biết vô thường sẽ chợt đến mà chẳng đợi một ai. Mù mịt không rõ như thế thì chẳng khác nào như đàn bò kia vậy."

時thời 坐tọa 中trung有hữu 貪tham 養dưỡng 比Bỉ 丘Khâu二nhị 百bách 人nhân聞văn 法Pháp 自tự 勵lệ逮đãi 六Lục 神Thần 通Thông得đắc 阿A 羅La 漢Hán眾chúng 坐tọa 悲bi 喜hỷ為vì 佛Phật 作tác 禮lễ
Bấy giờ có 200 vị Bhikṣu [bíc su] tham lam lợi dưỡng đang ngồi trong chúng hội. Khi nghe Phật thuyết Pháp, họ tự gắng sức tu hành. Sau đó, họ chứng đắc sáu loại thần thông và thành bậc Ứng Chân. Khi ấy, đại chúng đang ngồi nghe Pháp vừa buồn vừa vui. Họ đảnh lễ Đức Phật, rồi lui ra.




昔tích 佛Phật 在tại 舍Xá 衛Vệ 國Quốc祇Kỳ 樹Thụ 給Cấp 孤Cô 獨Độc 園Viên為vì 諸chư 弟đệ 子tử 說thuyết 法Pháp
Thuở xưa Đức Phật thuyết Pháp cho các đệ tử ở tại vườn Cấp Cô Độc, trong Rừng cây Chiến Thắng gần thành Phong Đức.

時thời 有hữu 梵Phạm 志Chí 女nữ年niên 十thập 四tứ 五ngũ端đoan 正chánh 聰thông 辯biện父phụ 甚thậm 憐lân 愛ái卒thốt 得đắc 重trọng 病bệnh即tức 便tiện 喪táng 亡vong田điền 有hữu 熟thục 麥mạch為vị 野dã 火hỏa 所sở 燒thiêu梵Phạm 志Chí 得đắc 此thử憂ưu 惱não 愁sầu 憒hội失thất 意ý 恍hoảng 惚hốt譬thí 如như 狂cuồng 人nhân不bất 能năng 自tự 解giải
Bấy giờ có một bé gái thuộc dòng dõi Phạm Chí, tuổi chừng 14, 15, xinh đẹp thông minh, và được cha nàng yêu thương hết mực. Thế nhưng, cô bé bỗng nhiên lâm trọng bệnh và đột ngột qua đời. Đây ví như cánh đồng lúa tẻ đang chín thì bỗng nhiên bị lửa hoang thiêu rụi. Do Phạm Chí gặp việc như thế nên ưu sầu khổ não. Tâm ý hoảng hốt như kẻ điên cuồng, và chẳng thể tự mình cởi bỏ nỗi đau buồn.

傳truyền 聞văn 人nhân 說thuyết
Ông nghe người ta nói rằng:

佛Phật 為vi 大Đại 聖Thánh天thiên 人nhân 之chi 師sư演diễn 說thuyết 經Kinh 道Đạo忘vong 憂ưu 除trừ 患hoạn
"Phật là bậc Đại Thánh, là thầy của trời người. Ngài có thể diễn nói Kinh Đạo để diệt trừ lo âu và hoạn nạn."

於ư 是thị 梵Phạm 志Chí往vãng 到đáo 佛Phật 所sở作tác 禮lễ 長trường 跪quỵ白bạch 佛Phật 言ngôn
Và thế là, Phạm Chí liền đi đến chỗ của Phật. Sau đó, ông đảnh lễ Phật, quỳ hai gối, rồi thưa rằng:

素tố 少thiểu 子tử 息tức唯duy 有hữu 一nhất 女nữ愛ái 以dĩ 忘vong 憂ưu卒thốt 得đắc 重trọng 病bệnh捨xả 我ngã 喪táng 亡vong天thiên 性tánh 悼điệu 愍mẫn情tình 不bất 自tự 勝thắng唯duy 願nguyện 世Thế 尊Tôn垂thùy 神thần 開khai 化hóa釋thích 我ngã 憂ưu 結kết
"[Thưa Thế Tôn!] Con vốn chẳng có nhiều con cái. Con chỉ có một đứa con gái. Thế mà nó bỗng nhiên lâm trọng bệnh và đột ngột qua đời. Con thương tiếc vô vàn và chẳng thể kiềm chế được tình cảm của mình. Cầu mong Thế Tôn hãy rũ lòng thương xót mà khai thị để tháo gỡ nỗi ưu sầu của con."

佛Phật 告cáo 梵Phạm 志Chí
Phật bảo Phạm Chí rằng:

世thế 有hữu 四tứ 事sự不bất 可khả 得đắc 久cửu
"Thế gian có bốn việc mà chẳng thể lâu dài.

何hà 謂vị 為vi 四tứ
Những gì là bốn?

一nhất 者giả有hữu 常thường 必tất 無vô 常thường二nhị 者giả富phú 貴quý 必tất 貧bần 賤tiện三tam 者giả合hợp 會hội 必tất 別biệt 離ly四tứ 者giả強cường 健kiện 必tất 當đương 死tử
1. Có thường tất sẽ vô thường.
2. Có phú quý tất sẽ bần tiện.
3. Có hội họp tất sẽ biệt ly.
4. Dù khỏe mạnh rồi cũng sẽ chết.

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

常thường 者giả 皆giai 盡tận
高cao 者giả 必tất 墮đọa
合hợp 會hội 有hữu 離ly
生sanh 者giả 有hữu 死tử

"Thường hằng rồi cũng tận
Cao tột rồi cũng đọa
Có hợp ắt có tan
Có sanh ắt có tử"

梵Phạm 志Chí 聞văn 偈kệ心tâm 即tức 開khai 解giải願nguyện 作tác 比Bỉ 丘Khâu鬚tu 髮phát 自tự 墮đọa即tức 成thành 比Bỉ 丘Khâu重trùng 惟duy 非phi 常thường得đắc 羅La 漢Hán 道Đạo
Khi Phạm Chí nghe kệ xong, tâm lập tức khai ngộ, rồi xin làm Bhikṣu. Lúc đó râu tóc của Phạm Chí tự rụng và liền trở thành Bhikṣu. Sau đó, ngài lại tư duy vô thường và đắc Đạo Ứng Chân.




昔tích 佛Phật 在tại 羅La 閱Duyệt 祇Kỳ耆Kỳ 闍Xà 崛Quật 山Sơn 中trung時thời 城thành 內nội 有hữu 婬dâm 女nữ 人nhân名danh 曰viết 蓮Liên 華Hoa姿tư 容dung 端đoan 正chánh國quốc 中trung 無vô 雙song大đại 臣thần 子tử 弟đệ莫mạc 不bất 尋tầm 敬kính
Thuở xưa Đức Phật ở trên núi Thứu Phong gần thành Vương Xá. Bấy giờ trong thành có một dâm nữ tên là Liên Hoa, dung nhan mỹ lệ và xinh đẹp vô song. Con cháu và anh em của các đại thần, chẳng ai mà không tìm đến để tỏ lòng.

爾nhĩ 時thời 蓮Liên 華Hoa善thiện 心tâm 自tự 生sanh欲dục 棄khí 世thế 事sự作tác 比Bỉ 丘Khâu 尼Ni即tức 詣nghệ 山sơn 中trung就tựu 到đáo 佛Phật 所sở未vị 至chí 中trung 道đạo有hữu 流lưu 泉tuyền 水thủy蓮Liên 華Hoa 飲ẩm 水thủy 澡táo 手thủ自tự 見kiến 面diện 像tượng容dung 色sắc 紅hồng 輝huy頭đầu 髮phát 紺cám 青thanh形hình 貌mạo 方phương 正chánh挺đĩnh 特đặc 無vô 比tỉ
Một ngày nọ, do thiện tâm của Liên Hoa tự nhiên sanh khởi, nên nàng muốn lìa bỏ chuyện đời mà làm Bhikṣuṇī [bíc su ni]. Thế là cô ta liền vào trong núi để đến chỗ của Phật. Trên đường đi, Liên Hoa gặp một dòng suối chảy, nên dừng lại để uống nước và rửa tay. Khi nhìn xuống nước, nàng tự thấy gương mặt ửng hồng mỹ miều, với mái tóc mượt mà, và hình mạo xinh đẹp kiều diễm mà chẳng một ai có thể sánh bằng.

心tâm 自tự 悔hối 曰viết
Thế nên trong lòng cảm thấy hối tiếc và tự nghĩ rằng:

人nhân 生sanh 於ư 世thế形hình 體thể 如như 此thử云vân 何hà 自tự 棄khí行hành 作tác 沙Sa 門Môn且thả 當đương 順thuận 時thời快khoái 我ngã 私tư 情tình
"Với nhan sắc thế này ở trên đời, sao mình phải lìa bỏ để trở thành người xuất gia? Ta tốt hơn hãy nắm lấy cơ hội của tuổi thanh xuân và vui sướng theo ý thích của mình."

念niệm 已dĩ 便tiện 還hoàn佛Phật 知tri 蓮Liên 華Hoa應ưng 當đương 化hóa 度độ化hóa 作tác 一nhất 婦phụ 人nhân端đoan 正chánh 絕tuyệt 世thế復phục 勝thắng 蓮Liên 華Hoa數sổ 千thiên 萬vạn 倍bội尋tầm 路lộ 逆nghịch 來lai蓮Liên 華Hoa 見kiến 之chi心tâm 甚thậm 愛ái 敬kính
Nghĩ như thế, nàng liền quay về. Lúc ấy Đức Phật biết Liên Hoa đáng được hóa độ, nên Ngài biến thành một người phụ nữ xinh đẹp tuyệt trần và còn đẹp hơn Liên Hoa vài ngàn vạn lần, rồi từ hướng ngược chiều mà đi đến. Khi thấy người phụ nữ này, lòng của Liên Hoa hết sức kính mộ.

即tức 問vấn 化hóa 人nhân從tùng 何hà 所sở 來lai夫phu 主chủ 兒nhi 子tử父phụ 兄huynh 中trung 外ngoại皆giai 在tại 何hà 許hứa云vân 何hà 獨độc 行hành而nhi 無vô 將tương 從tùng
Nàng liền hỏi hóa nhân từ đâu đến. Chồng con cha anh đang ở nhà hay đã ra ngoài, và tại sao lại đi một mình mà chẳng ai theo cùng.

化hóa 人nhân 答đáp 言ngôn
Hóa nhân đáp rằng:

從tùng 城thành 中trung 來lai欲dục 還hoàn 歸quy 家gia雖tuy 不bất 相tương 識thức寧ninh 可khả 共cộng 還hoàn到đáo 泉tuyền 水thủy 上thượng坐tọa 息tức 共cộng 語ngữ 不phủ
"Tôi từ trong thành đi ra và muốn trở về nhà. Tuy chúng ta không quen biết, nhưng cô có muốn cùng tôi đi đến ở phía trên của con suối để ngồi xuống và chuyện trò chăng?"

蓮Liên 華Hoa 言ngôn
Liên Hoa đáp rằng:

善thiện
"Tốt lắm!"

二nhị 人nhân 相tương 將tương還hoàn 到đáo 水thủy 上thượng陳trần 意ý 委ủy 曲khúc化hóa 人nhân 睡thụy 來lai枕chẩm 蓮Liên 華Hoa 膝tất 眠miên須tu 臾du 之chi 頃khoảnh忽hốt 然nhiên 命mạng 絕tuyệt膖phùng 脹trướng 臭xú 爛lạn腹phúc 潰hội 蟲trùng 出xuất齒xỉ 落lạc 髮phát 墮đọa肢chi 體thể 解giải 散tán
Và thế là, hai người cùng đi đến ở phía trên của con suối để nghỉ ngơi và trò chuyện. Một lát sau, hóa nhân kê đầu mình trên đùi của Liên Hoa mà nằm ngủ. Chỉ trong khoảnh khắc, hóa nhân bỗng nhiên chết mất. Thân xác trương sình và bốc mùi hôi thối; vùng bụng nứt vỡ và có trùng chui ra; răng và tóc rơi rụng; tứ chi và thân thể rữa nát.

蓮Liên 華Hoa 見kiến 之chi心tâm 大đại 驚kinh 怖bố
Khi Liên Hoa thấy thế, lòng kinh hoàng hãi sợ và nghĩ rằng:

云vân 何hà 好hảo 人nhân忽hốt 便tiện 無vô 常thường此thử 人nhân 尚thượng 爾nhĩ我ngã 豈khởi 久cửu 存tồn故cố 當đương 詣nghệ 佛Phật精tinh 進tấn 學học 道Đạo
"Tại sao người đẹp dường ấy mà bỗng nhiên trở thành như vậy? Kẻ đó mà vẫn bị như thế, còn mình chắc sao tránh khỏi. Mình nhất định phải đến chỗ của Phật và tinh tấn học Đạo."

即tức 至chí 佛Phật 所sở五ngũ 體thể 投đầu 地địa作tác 禮lễ 已dĩ 訖ngật具cụ 以dĩ 所sở 見kiến向hướng 佛Phật 說thuyết 之chi
Liên Hoa lập tức đến chỗ của Phật và cúi đầu đảnh lễ sát đất. Khi đảnh lễ xong, nàng hướng về Đức Phật và kể rõ tường tận về những gì đã thấy.

佛Phật 告cáo 蓮Liên 華Hoa
Phật bảo Liên Hoa rằng:

人nhân 有hữu 四tứ 事sự不bất 可khả 恃thị 怙hộ
"Con người có bốn việc mà không thể bảo hộ.

何hà 謂vị 為vi 四tứ
Những gì là bốn?

一nhất 者giả少thiếu 壯tráng 會hội 當đương 歸quy 老lão二nhị 者giả強cường 健kiện 會hội 當đương 歸quy 死tử三tam 者giả六lục 親thân 聚tụ 歡hoan 娛ngu 樂lạc會hội 當đương 別biệt 離ly四tứ 者giả財tài 寶bảo 積tích 聚tụ要yếu 當đương 分phân 散tán
1. trẻ mạnh rồi cũng phải già
2. cường tráng rồi cũng phải chết
3. thân quyến sum họp vui vẻ rồi cũng phải biệt ly
4. tiền của dành dụm rồi cũng phải phân tán"

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

老lão 則tắc 色sắc 衰suy
所sở 病bệnh 自tự 壞hoại
形hình 敗bại 腐hủ 朽hủ
命mạng 終chung 其kỳ 然nhiên

"Lúc già nhan sắc tàn
Bệnh tật hủy hoại ta
Thân thể thối rữa nát
Cái chết là lẽ thường

是thị 身thân 何hà 用dụng
洹hoàn 漏lậu 臭xú 處xứ
為vị 病bệnh 所sở 困khốn
有hữu 老lão 死tử 患hoạn

Thân này để làm gì?
Nơi luôn tiết đồ dơ
Bệnh hoạn làm khốn khổ
Già suy rồi phải chết

嗜thị 欲dục 自tự 恣tứ
非phi 法pháp 是thị 增tăng
不bất 見kiến 聞văn 變biến
壽thọ 命mạng 無vô 常thường

Tham dục ý buông lung
Sai quấy ngày càng tăng
Không thấy cũng chẳng nghe
Thọ mạng là vô thường

非phi 有hữu 子tử 恃thị
亦diệc 非phi 父phụ 兄huynh
為vị 死tử 所sở 迫bách
無vô 親thân 可khả 怙hộ

Chẳng con chẳng cha anh
Có thể cậy nương nhờ
Bị chết làm khổ bức
Không ai có thể hộ"

蓮Liên 華Hoa 聞văn 法Pháp欣hân 然nhiên 解giải 釋thích觀quán 身thân 如như 化hóa命mạng 不bất 久cửu 停đình唯duy 有hữu 道Đạo 德đức泥Nê 洹Hoàn 永vĩnh 安an
Khi nghe Pháp xong, Liên Hoa rất vui mừng và thấu hiểu nghĩa lý. Nàng quán thân như huyễn hóa, mạng sống chẳng ở lâu, và chỉ có Đạo tịch diệt mới là an vui vĩnh viễn.

即tức 前tiền 白bạch 佛Phật
Rồi liền ở trước Phật thưa rằng:

願nguyện 為vi 比Bỉ 丘Khâu 尼Ni
"[Thưa Thế Tôn!] Con muốn xuất gia làm Bhikṣuṇī."

佛Phật 言ngôn
Đức Phật khen:

善thiện 哉tai
"Lành thay!"

頭đầu 髮phát 自tự 墮đọa即tức 成thành 比Bỉ 丘Khâu 尼Ni思tư 惟duy 止Chỉ 觀Quán即tức 得đắc 羅La 漢Hán諸chư 在tại 坐tọa 者giả聞văn 佛Phật 所sở 說thuyết莫mạc 不bất 歡hoan 喜hỷ
Lúc đó, tóc trên đầu của Liên Hoa tự rụng và liền trở thành Bhikṣuṇī. Sau đó, Bhikṣuṇī Liên Hoa tư duy Chỉ Quán và liền đắc Đạo Ứng Chân. Bấy giờ, những thính giả đang ngồi nghe Phật thuyết giảng, không ai là chẳng hoan hỷ.




昔tích 佛Phật 在tại 王Vương 舍Xá 城Thành竹Trúc 園Viên 中trung 說thuyết 法Pháp
Thuở xưa Đức Phật thuyết Pháp ở trong Tinh xá Trúc Lâm gần thành Vương Xá.

時thời 有hữu 梵Phạm 志Chí兄huynh 弟đệ 四tứ 人nhân各các 得đắc 五ngũ 通thông卻khước 後hậu 七thất 日nhật皆giai 當đương 命mạng 盡tận
Bấy giờ có bốn anh em thuộc dòng dõi Phạm Chí. Do ai nấy đều đắc năm loại thần thông, nên biết bảy ngày sau họ đều sẽ chết.

自tự 共cộng 議nghị 言ngôn
Thế nên, họ cùng bàn luận rằng:

五ngũ 通thông 之chi 力lực反phản 覆phúc 天thiên 地địa手thủ 捫môn 日nhật 月nguyệt移di 山sơn 住trụ 流lưu靡mĩ 所sở 不bất 能năng寧ninh 當đương 不bất 能năng避tị 此thử 死tử 對đối
"Thần lực của năm loại thần thông mà chúng ta đã đắc, có thể lật ngược trời đất, có thể lấy tay sờ mặt trời và mặt trăng, có thể dời non và làm nước ngừng chảy; không gì mà chẳng có thể. Chẳng lẽ lại không thể tránh khỏi cái chết này hay sao?"

一nhất 人nhân 言ngôn
Người thứ nhất nói rằng:

吾ngô 入nhập 大đại 海hải上thượng 不bất 出xuất 現hiện下hạ 不bất 至chí 底để正chánh 處xử 其kỳ 中trung無vô 常thường 殺sát 鬼quỷ安an 知tri 我ngã 處xứ
"Huynh sẽ vào biển cả, không ngoi lên khỏi mặt nước hay lặn xuống đáy; huynh sẽ ở giữa lưng chừng. Thế thì sát quỷ vô thường làm sao biết được chỗ trú của huynh?"

一nhất 人nhân 言ngôn
Người thứ nhì nói rằng:

吾ngô 入nhập 須Tu 彌Di 山Sơn 中trung還hoàn 合hợp 其kỳ 表biểu令linh 無vô 際tế 現hiện無vô 常thường 殺sát 鬼quỷ安an 知tri 吾ngô 處xứ
"Đệ sẽ vào trong núi Diệu Cao, rồi lấp kín lối vào để không còn vết tích gì. Thế thì sát quỷ vô thường làm sao biết được chỗ trú của đệ?"

一nhất 人nhân 言ngôn
Người thứ ba nói rằng:

吾ngô 當đương 輕khinh 舉cử隱ẩn 虛hư 空không 中trung無vô 常thường 殺sát 鬼quỷ安an 知tri 吾ngô 處xứ
"Đệ sẽ nhẹ nhàng vọt lên và ẩn náu trong hư không. Thế thì sát quỷ vô thường làm sao biết được chỗ trú của đệ?"

一nhất 人nhân 言ngôn
Người thứ tư nói rằng:

吾ngô 當đương 藏tàng 入nhập大đại 市thị 之chi 中trung無vô 常thường 殺sát 鬼quỷ趣thú 得đắc 一nhất 人nhân何hà 必tất 求cầu 吾ngô 也dã
"Đệ sẽ ẩn náu trong phố chợ đông đúc. Giả như sát quỷ vô thường đã bắt được một người nào đó, thì cần gì phải kiếm đệ chi nữa?"

四tứ 人nhân 議nghị 訖ngật相tương 將tương 辭từ 王vương
Khi đã bàn luận xong, bốn anh em cùng nói lời từ biệt nhà vua rằng:

吾ngô 等đẳng 壽thọ 算toán餘dư 有hữu 七thất 日nhật今kim 欲dục 逃đào 命mạng冀ký 當đương 得đắc 脫thoát還hoàn 乃nãi 覲cận 省tỉnh唯duy 願nguyện 進tiến 德đức
"Chúng tôi đã tính toán và biết rằng thọ mạng của mỗi người chúng tôi chỉ còn bảy ngày. Nay chúng tôi muốn từ giã để lánh nạn, và hầu mong sẽ được thoát miễn. Mai này chúng tôi sẽ trở lại viếng thăm đại vương. Kính chúc đại vương hãy siêng tu công đức."

於ư 是thị 別biệt 去khứ各các 到đáo 所sở 在tại七thất 日nhật 期kỳ 滿mãn各các 以dĩ 命mạng 終chung猶do 果quả 熟thục 落lạc
Sau đó, họ từ biệt ra đi và mỗi người mỗi nẻo. Bảy ngày trôi qua, ai nấy đều mạng chung, tựa như trái chín rơi rụng.

市thị 監giám 白bạch 王vương
Khi ấy, người cai quản phố chợ tâu với nhà vua rằng:

有hữu 一nhất 梵Phạm 志Chí卒thốt 死tử 市thị 中trung
"[Tâu đại vương!] Có một Phạm Chí bỗng nhiên chết ở trong phố chợ."

王vương 乃nãi 悟ngộ 曰viết
Nhà vua mới tỏ ngộ rằng:

四tứ 人nhân 避tị 對đối一nhất 人nhân 已dĩ 死tử其kỳ 餘dư 三tam 人nhân豈khởi 得đắc 獨độc 免miễn
"Bốn anh em cùng nhau lánh nạn. Nay một người đã chết. Ba người còn lại, chắc gì được thoát khỏi?"

王vương 即tức 嚴nghiêm 駕giá往vãng 至chí 佛Phật 所sở作tác 禮lễ 卻khước 坐tọa
Và thế là, nhà vua liền ra lệnh chuẩn bị xe ngựa và đi đến chỗ của Phật. Lúc đến nơi, ngài đảnh lễ rồi ngồi xuống.

王vương 白bạch 佛Phật 言ngôn
Sau đó, nhà vua bạch Phật rằng:

近cận 有hữu 梵Phạm 志Chí兄huynh 弟đệ 四tứ 人nhân各các 獲hoạch 五ngũ 通thông自tự 知tri 命mạng 盡tận皆giai 共cộng 避tị 之chi不bất 審thẩm 今kim 者giả皆giai 能năng 得đắc 脫thoát 不phủ
"[Bạch Thế Tôn!] Gần đây có bốn anh em thuộc dòng dõi Phạm Chí. Ai nấy đều đắc năm loại thần thông và tự biết thọ mạng sắp hết nên cùng nhau lánh nạn. Chẳng hay giờ thì họ có được thoát miễn không?"

佛Phật 告cáo 大đại 王vương
Phật bảo nhà vua rằng:

人nhân 有hữu 四tứ 事sự不bất 可khả 得đắc 離ly
"Con người có bốn việc mà không thể tránh khỏi.

何hà 謂vị 為vi 四tứ
Những gì là bốn?

一nhất 者giả在tại 中trung 陰ấm 中trung不bất 得đắc 不bất 受thọ 生sanh二nhị 者giả已dĩ 生sanh不bất 得đắc 不bất 受thọ 老lão三tam 者giả已dĩ 老lão不bất 得đắc 不bất 受thọ 病bệnh四tứ 者giả已dĩ 病bệnh不bất 得đắc 不bất 受thọ 死tử
1. Một khi đã ở trong thân trung uẩn, không ai là chẳng chuyển sanh.
2. Một khi đã sanh, không ai là chẳng bị già.
3. Một khi đã già, không ai là chẳng mắc bệnh.
4. Một khi đã bệnh, không ai là chẳng bị chết."

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

非phi 空không 非phi 海hải 中trung
非phi 入nhập 山sơn 石thạch 間gian
無vô 有hữu 地địa 方phương 所sở
脫thoát 之chi 不bất 受thọ 死tử

"Vào biển trú hư không
Dù vào tận hang núi
Chẳng có một nơi nào
Thoát miễn khỏi phải chết

是thị 務vụ 是thị 吾ngô 作tác
當đương 作tác 令linh 致trí 是thị
人nhân 為vị 此thử 躁táo 擾nhiễu
履lý 踐tiễn 老lão 死tử 憂ưu

Việc này do mình tạo
Nghiệp báo sẽ như thế
Ai siết bởi phiền não
Thẳng tiến già chết sầu

知tri 此thử 能năng 自tự 靜tĩnh
如như 是thị 見kiến 生sanh 盡tận
比Bỉ 丘Khâu 厭yếm 魔ma 兵binh
從tùng 生sanh 死tử 得đắc 度độ

Biết rồi, tự tĩnh lặng
Như thế thấy hết sanh
Bhikṣu! Nhàm phiền não
Ra khỏi chốn sanh tử"

王vương 聞văn 佛Phật 言ngôn歎thán 曰viết
Khi nghe Phật dạy, nhà vua tán thán rằng:

善thiện 哉tai誠thành 如như 尊Tôn 教giáo四tứ 人nhân 避tị 對đối一nhất 人nhân 已dĩ 死tử祿lộc 命mạng 有hữu 分phần餘dư 復phục 然nhiên 矣hĩ
"Lành thay! Đúng như lời Thế Tôn đã dạy. Bốn anh em cùng nhau lánh nạn, nhưng nay một người đã chết. Những người còn lại có chung số phận thì làm sao thoát khỏi."

群quần 臣thần 從tùng 官quan莫mạc 不bất 信tín 受thọ
Bấy giờ quần thần cùng bách quan đi theo, không ai là chẳng tín thọ.

教Giáo 學Học 品Phẩm 第đệ 二nhị
Phẩm 2: Giáo Học


昔tích 佛Phật 在tại 舍Xá 衛Vệ 國Quốc祇Kỳ 樹Thụ 精Tinh 舍Xá
Thuở xưa Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, trong Rừng cây Chiến Thắng gần thành Phong Đức.

佛Phật 告cáo 諸chư 比Bỉ 丘Khâu
Bấy giờ Phật bảo các vị Bhikṣu rằng:

當đương 勤cần 修tu 道Đạo除trừ 棄khí 陰ấm 蓋cái心tâm 明minh 神thần 定định可khả 免miễn 眾chúng 苦khổ
"Các thầy hãy tinh cần tu Đạo, trừ bỏ năm uẩn và năm sự ngăn che. Khi tâm ý trong sáng và thần trí kiên định, thì các thầy mới có thể thoát khỏi mọi khổ ách."

有hữu 一nhất 比Bỉ 丘Khâu志chí 不bất 明minh 達đạt飽bão 食thực 入nhập 室thất閉bế 房phòng 靜tĩnh 眠miên愛ái 身thân 快khoái 意ý不bất 觀quán 非phi 常thường冥minh 冥minh 懈giải 怠đãi無vô 復phục 晝trú 夜dạ卻khước 後hậu 七thất 日nhật其kỳ 命mạng 將tương 終chung佛Phật 愍mẫn 傷thương 之chi懼cụ 墮đọa 惡ác 道đạo
Bấy giờ có một vị Bhikṣu với ý chí không sáng suốt. Khi đã ăn no thì trở vào phòng và đóng cửa nằm ngủ, ái thân khoái ý, chẳng quán vô thường, tâm ý mù mịt, lười biếng, và chỉ lo ngủ mà chẳng màng gì về ngày hay đêm. Và như thế cho đến bảy ngày sau, khi ấy thọ mạng của vị Bhikṣu đó gần hết. Phật biết vậy nên từ mẫn thương cảm và sợ rằng ông ta sẽ đọa đường ác.

即tức 入nhập 其kỳ 室thất彈đàn 指chỉ 覺giác 曰viết
Thế là Đức Phật liền vào trong phòng của vị đó, rồi khảy móng tay để cảnh tỉnh và nói kệ rằng:

咄đốt 起khởi 何hà 為vi 寐mị
螉ông 螺loa 蜯bạng 蠹đố 類loại
隱ẩn 蔽tế 以dĩ 不bất 淨tịnh
迷mê 惑hoặc 計kế 為vi 身thân

"Dậy đi! Sao ngủ mãi?
Như ong, ốc, trai, mọt
Ẩn náu nơi bất tịnh
Mê lầm cho tốt thay

焉yên 有hữu 被bị 斫chước 瘡sang
心tâm 如như 嬰anh 病bệnh 痛thống
遘cấu 于vu 眾chúng 厄ách 難nạn
而nhi 反phản 為vi 用dụng 眠miên

Đã bị trọng thương nặng
Lòng nhói như bệnh đau
Gặp phải lắm ách nạn
Sao còn lo ham ngủ?

思tư 而nhi 不bất 放phóng 逸dật
為vi 仁nhân 學học 仁nhân 迹tích
從tùng 是thị 無vô 有hữu 憂ưu
常thường 念niệm 自tự 滅diệt 意ý

Tư duy chẳng buông lung
Nhân từ học thánh Đạo
Từ đó không ưu sầu
Chánh niệm vọng tự trừ

正chánh 見kiến 學học 務vụ 增tăng
是thị 為vi 世thế 間gian 明minh
所sở 生sanh 福phước 千thiên 倍bội
終chung 不bất 墮đọa 惡ác 道đạo

Chánh kiến học Đạo tăng
Trí tuệ soi thế gian
Phước sanh trăm ngàn đời
Vĩnh không đọa đường ác"

比Bỉ 丘Khâu 聞văn 偈kệ即tức 便tiện 驚kinh 寤ngụ見kiến 佛Phật 親thân 誨hối加gia 敬kính 悚tủng 息tức即tức 起khởi 稽khể 首thủ為vì 佛Phật 作tác 禮lễ
Khi nghe kệ xong, vị Bhikṣu kinh sợ và liền thức tỉnh. Khi thấy Phật đích thân đến chỉ dạy, vị Bhikṣu càng thêm cung kính nhưng đồng thời vừa sợ hãi. Rồi vị Bhikṣu liền đứng dậy và cúi đầu đảnh lễ Đức Phật.

佛Phật 告cáo 比Bỉ 丘Khâu
Bấy giờ Phật bảo vị Bhikṣu rằng:

汝nhữ 寧ninh 自tự 識thức本bổn 宿túc 命mạng 不phủ
"Ông có biết việc đời trước của mình chăng?"

比Bỉ 丘Khâu 對đối 曰viết
Vị Bhikṣu thưa rằng:

陰ấm 蓋cái 所sở 覆phú實thật 不bất 自tự 識thức 也dã
"[Thưa Thế Tôn!] Do phủ trùm bởi năm uẩn và năm sự ngăn che nên con thật sự chẳng biết."

佛Phật 告cáo 比Bỉ 丘Khâu
Phật bảo vị Bhikṣu rằng:

昔tích 維Duy 衛Vệ 佛Phật 時thời汝nhữ 曾tằng 出xuất 家gia貪tham 身thân 利lợi 養dưỡng不bất 念niệm 經Kinh 戒giới飽bão 食thực 卻khước 眠miên不bất 念niệm 非phi 常thường命mạng 終chung 魂hồn 神thần生sanh 螉ông 蟲trùng 中trung積tích 五ngũ 萬vạn 歲tuế壽thọ 盡tận 復phục 為vi螺loa 蜯bạng 之chi 蟲trùng樹thụ 中trung 蠹đố 蟲trùng各các 五ngũ 萬vạn 歲tuế此thử 四tứ 品phẩm 蟲trùng生sanh 長trưởng 冥minh 中trung貪tham 身thân 愛ái 命mạng樂nhạo 處xử 幽u 隱ẩn以dĩ 冥minh 為vi 家gia不bất 憙hí 光quang 明minh一nhất 眠miên 之chi 時thời百bách 歲tuế 乃nãi 覺giác纏triền 綿miên 罪tội 網võng不bất 求cầu 出xuất 要yếu今kim 始thỉ 罪tội 畢tất得đắc 為vi 沙Sa 門Môn如như 何hà 睡thụy 眠miên不bất 知tri 厭yếm 足túc
"Vào thời Đức Phật Thắng Quán ở thuở quá khứ, ông đã từng xuất gia, nhưng chỉ tham lam lợi dưỡng và không tụng Kinh trì giới. Khi ăn xong thì đi ngủ và không quán tưởng vô thường. Lúc mạng chung, thần hồn của ông sanh trong loài ong nghệ đến 50.000 năm. Tiếp đến lại sanh làm ốc, con trai, và mọt ở trong cây. Mỗi loài là 50.000 năm. Bốn loại sâu bọ này sanh trưởng ở trong tối, ái luyến thân mạng, ưa nơi u ám, lấy tối làm nhà và chẳng thích ánh sáng. Mỗi lần ngủ đến 100 năm mới thức dậy, thân tâm siết trói ở trong lưới tội, và chẳng mong ra khỏi. Cho đến nay tội mới hết và được làm Đạo Nhân. Đã như thế, tại sao còn cứ mãi ngủ say mà không biết nhàm chán?"

於ư 是thị 比Bỉ 丘Khâu重trùng 聞văn 宿túc 緣duyên慚tàm 怖bố 自tự 責trách五ngũ 蓋cái 雲vân 除trừ即tức 得đắc 羅La 漢Hán
Khi nghe về việc đời trước của mình, vị Bhikṣu sanh tâm sợ hãi và xấu hổ tự trách. Bấy giờ, năm sự ngăn che của ngài được tiêu trừ và liền đắc Đạo Ứng Chân.




昔tích 佛Phật 在tại 舍Xá 衛Vệ 國Quốc祇Kỳ 樹Thụ 給Cấp 孤Cô 獨Độc 園Viên與dữ 諸chư 天thiên 人nhân四tứ 輩bối 說thuyết 法Pháp
Thuở xưa Đức Phật thuyết Pháp cho hàng trời người và bốn chúng đệ tử ở tại vườn Cấp Cô Độc, trong Rừng cây Chiến Thắng gần thành Phong Đức.

時thời 有hữu 一nhất 年niên 少thiếu 比Bỉ 丘Khâu為vi 人nhân 頑ngoan 愚ngu質chất 直trực 踈sơ 野dã未vị 解giải 道Đạo 要yếu情tình 意ý 興hưng 盛thịnh思tư 想tưởng 於ư 欲dục陽dương 氣khí 隆long 盛thịnh不bất 能năng 自tự 制chế以dĩ 此thử 為vi 惱não不bất 獲hoạch 度độ 世thế
Bấy giờ có một vị Bhikṣu trẻ tuổi, với bản tánh ngu si, chất trực thô lỗ, và chưa hiểu Pháp yếu. Lại nữa, tình dục của ông ta rất hẫy hừng, chỉ nghĩ tưởng dâm dục, dương khí cực thịnh, và chẳng thể kiềm chế bản thân. Do bởi việc này mà ông ta khởi sanh phiền não và chẳng thể vượt khỏi thế gian.

坐tọa 自tự 思tư 惟duy
Có một ngày, vị Bhikṣu ấy ngồi xuống và nghĩ thầm:

有hữu 根căn 斷đoạn 者giả然nhiên 後hậu 清thanh 淨tịnh可khả 得đắc 道Đạo 迹tích
"Mình phải cắt bỏ nam căn thì sau đó tâm sẽ thanh tịnh và mới có thể thấy dấu Đạo."

即tức 至chí 檀đàn 越việt 家gia從tùng 之chi 借tá 斧phủ還hoàn 房phòng 閉bế 戶hộ脫thoát 去khứ 衣y 服phục坐tọa 木mộc 板bản 上thượng欲dục 自tự 斫chước 陰âm
Và thế là, vị Bhikṣu ấy liền đến nhà của một thí chủ nọ và hỏi mượn cái rìu. Sau đó, ngài trở về phòng và đóng cửa lại, rồi cởi y phục ra, ngồi trên một tấm ván, và muốn chặt đứt nam căn của mình.


[Vị Bhikṣu ấy lại nghĩ:]

正chánh 坐tọa 此thử 陰âm令linh 我ngã 勤cần 苦khổ經kinh 歷lịch 生sanh 死tử無vô 央ương 數số 劫kiếp三tam 塗đồ 六lục 趣thú皆giai 由do 色sắc 欲dục不bất 斷đoạn 此thử 者giả無vô 緣duyên 得đắc 道Đạo
"Do cái nam căn này mà khiến mình phải khốn khổ, trải qua vô số kiếp sanh tử, thọ khổ ở ba đường ác, và luân hồi trong sáu đường. Tất cả đều do sắc dục. Nếu cắt bỏ nam căn thì sẽ không còn nhân duyên của luân hồi và chắc sẽ đắc Đạo."

佛Phật 知tri 其kỳ 意ý愚ngu 癡si 乃nãi 爾nhĩ道Đạo 從tùng 制chế 心tâm心tâm 是thị 根căn 源nguyên不bất 知tri 當đương 死tử自tự 害hại 墮đọa 罪tội長trường 受thọ 苦khổ 痛thống
Đức Phật biết do bởi ý niệm ngu si của ông ta nên mới làm như thế. Ông ta đã chẳng biết rằng, tu hành cần phải chế phục tâm. Tâm là nguồn gốc. Vị Bhikṣu ấy đã chẳng biết rằng, nếu đoạn nam căn thì sẽ có thể bị chết, tự hại chính mình, và sẽ đọa đường ác để chịu mãi đau đớn.

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn往vãng 入nhập 其kỳ 房phòng即tức 問vấn 比Bỉ 丘Khâu
Bấy giờ Thế Tôn tiến vào phòng và liền hỏi vị Bhikṣu rằng:

欲dục 作tác 何hà 等đẳng放phóng 斧phủ 著trước 衣y
"Ông đang muốn làm gì? Hãy bỏ rìu xuống và mặc y phục vào."

禮lễ 佛Phật 自tự 陳trần
Vị Bhikṣu đảnh lễ Phật và kể lại sự việc của mình:

學học 道Đạo 日nhật 久cửu未vị 解giải 法Pháp 門môn每mỗi 坐tọa 禪thiền 定định垂thùy 當đương 得đắc 道Đạo為vị 欲dục 所sở 蓋cái陽dương 氣khí 隆long 盛thịnh意ý 惑hoặc 目mục 冥minh不bất 覺giác 天thiên 地địa諦đế 自tự 責trách 念niệm事sự 皆giai 由do 此thử是thị 以dĩ 借tá 斧phủ欲dục 斷đoạn 制chế 之chi
"[Thưa Thế Tôn!] Con học Đạo đã lâu rồi, nhưng vẫn chưa đắc Đạo. Mỗi lần ngồi thiền để tư duy về Đạo thì bị sắc dục che phủ và dương khí cực thịnh. Tuy mắt đã nhắm nhưng trong lòng mê muội và chẳng hiểu Đạo lý của trời đất. Sau đó con suy xét lại và ăn năn tự trách, rằng việc này đều là do sắc dục. Thế là con đã đi mượn một cái rìu và muốn chặt đứt nam căn của mình."

佛Phật 告cáo 比Bỉ 丘Khâu
Phật bảo vị Bhikṣu đó rằng:

卿khanh 何hà 愚ngu 癡si不bất 解giải 道Đạo 理lý欲dục 求cầu 道Đạo 者giả先tiên 斷đoạn 其kỳ 癡si然nhiên 後hậu 制chế 心tâm心tâm 者giả善thiện 惡ác 之chi 根căn 源nguyên欲dục 斷đoạn 根căn 者giả先tiên 制chế 其kỳ 心tâm心tâm 定định 意ý 解giải然nhiên 後hậu 得đắc 道Đạo
"Sao ông quá si mê và chẳng hiểu Đạo lý như thế? Nếu ai muốn cầu Đạo, trước tiên hãy đoạn trừ si mê của mình, rồi sau đó hãy chế phục tâm. Tâm là nguồn gốc của thiện ác. Cho nên những ai muốn đoạn trừ gốc của tâm, trước tiên hãy chế phục tâm của mình. Khi tâm an định và ý liễu giải, sau đó họ sẽ đắc Đạo."

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

學học 先tiên 斷đoạn 母mẫu
率suất 君quân 二nhị 臣thần
廢phế 諸chư 營doanh 從tùng
是thị 上thượng 道Đạo 人Nhân

"Trước đoạn tâm tham ái
Kiêu mạn và tà kiến
Diệt sạch mọi kết sử
Đó là thượng Đạo Nhân"

佛Phật 告cáo 比Bỉ 丘Khâu
Phật bảo vị Bhikṣu đó rằng:

十Thập 二Nhị 因Nhân 緣Duyên以dĩ 癡si 為vi 本bổn癡si 者giả眾chúng 罪tội 之chi 源nguyên智trí 者giả眾chúng 行hành 之chi 本bổn先tiên 當đương 斷đoạn 癡si然nhiên 後hậu 意ý 定định
"Vô minh là căn nguyên của 12 Duyên Khởi. Vô minh là nguồn gốc của mọi tội ác. Trí tuệ phải là nền tảng của mọi việc làm. Trước tiên hãy đoạn trừ vô minh thì sau đó ý sẽ định."

佛Phật 說thuyết 是thị 已dĩ比Bỉ 丘Khâu 慚tàm 愧quý即tức 自tự 責trách 言ngôn
Khi Phật nói lời ấy xong, vị Bhikṣu cảm thấy xấu hổ và liền ăn năn tự trách:

我ngã 為vị 愚ngu 癡si迷mê 惑hoặc 來lai 久cửu不bất 解giải 古cổ 典điển使sử 如như 此thử 耳nhĩ今kim 佛Phật 所sở 說thuyết甚thậm 為vi 妙diệu 哉tai
"[Thưa Thế Tôn!] Bấy lâu nay con bị ngu si làm mê muội và chẳng hiểu Phật Pháp, nên mới đến nông nỗi như thế. Hôm nay con nghe được lời dạy của Phật, thật là vi diệu thay!"

內nội 思tư 正chánh 定định安an 般ban 守thủ 意ý制chế 心tâm 伏phục 情tình杜đỗ 閉bế 諸chư 欲dục即tức 得đắc 定định 意ý在tại 於ư 佛Phật 前tiền逮đãi 得đắc 應Ứng 真Chân
Ngay sau đó, ngài tu tập chánh định, nội tâm tư duy, và quán hơi thở ra vào. Khi đã chế ngự tâm, điều phục các căn, và lấp kín mọi dục niệm, ý của ngài liền được chuyên nhất và ở trước Đức Phật mà thành bậc Ứng Chân.




昔tích 佛Phật 在tại 羅La 閱Duyệt 祇Kỳ 國Quốc靈Linh 鷲Thứu 山Sơn 中trung為vì 諸chư 天thiên 人nhân國quốc 王vương 大đại 臣thần說thuyết 甘cam 露lộ 法Pháp
Thuở xưa Đức Phật ở trên núi Thứu Phong gần thành Vương Xá để thuyết Pháp cam lộ cho hàng trời người, quốc vương, và đại thần.

有hữu 一nhất 比Bỉ 丘Khâu剛cang 猛mãnh 勇dũng 健kiện佛Phật 知tri 其kỳ 意ý遣khiển 至chí 山sơn 後hậu鬼quỷ 神thần 谷cốc 中trung令linh 樹thụ 下hạ 坐tọa數sổ 息tức 求cầu 定định知tri 息tức 長trường 短đoản安an 般ban 守thủ 意ý斷đoạn 求cầu 滅diệt 苦khổ可khả 得đắc 泥Nê 洹Hoàn
Bấy giờ có một vị Bhikṣu khỏe mạnh với ý chí dũng mãnh cang cường. Đức Phật biết rõ tâm tưởng của ngài nên sai đến trong cốc quỷ thần ở sau núi, rồi ngồi dưới một gốc cây mà tu thiền định với pháp quán tưởng hơi thở và hãy biết rõ hơi thở dài ngắn. Với pháp quán tưởng hơi thở ra vào thì sẽ đoạn trừ mong cầu, diệt trừ khổ hoạn, và có thể đắc tịch diệt.

比Bỉ 丘Khâu 受thọ 教giáo往vãng 至chí 谷cốc 中trung欲dục 坐tọa 定định 意ý但đãn 聞văn 山sơn 中trung鬼quỷ 神thần 語ngữ 聲thanh不bất 見kiến 其kỳ 形hình但đãn 有hữu 音âm 聲thanh悚tủng 息tức 怖bố 懼cụ不bất 能năng 自tự 寧ninh意ý 欲dục 悔hối 還hoàn
Vị Bhikṣu vâng lời Phật dạy và đi vào trong cốc. Nhưng khi vừa muốn ngồi thiền, ngài chỉ nghe tiếng của quỷ thần ở trong núi, không thấy hình dáng mà chỉ có âm thanh. Khi ấy vị Bhikṣu sợ hãi kinh hoàng, lòng không được bình an, và ý muốn hoàn tục.

即tức 自tự 念niệm 言ngôn
Liền tự nghĩ thầm:

居cư 家gia 大đại 富phú 宗tông 族tộc又hựu 強cưỡng 出xuất 家gia 學học 道Đạo獨độc 見kiến 安an 處xứ鬼quỷ 神thần 深thâm 山sơn既ký 無vô 伴bạn 侶lữ又hựu 無vô 行hành 人nhân但đãn 有hữu 諸chư 鬼quỷ數sác 來lai 怖bố 人nhân
"Mình lớn lên trong một gia tộc đại phú quý, nhưng đã từ bỏ để xuất gia học Đạo và mong rằng sẽ tìm thấy nơi an ổn. Tuy nhiên, bây giờ giữa chốn rừng sâu, mình đã không có bạn lữ mà còn vắng bóng người tu hành, và chỉ có chúng quỷ thần cứ đến làm kinh rợn người."

思tư 惟duy 如như 是thị未vị 去khứ 之chi 間gian於ư 是thị 世Thế 尊Tôn往vãng 到đáo 其kỳ 邊biên坐tọa 一nhất 樹thụ 下hạ而nhi 問vấn 之chi 曰viết
Đương lúc suy nghĩ như thế và còn chưa rời khỏi, khi ấy Thế Tôn đi đến ở bên cạnh vị Bhikṣu, rồi ngồi dưới một gốc cây và hỏi rằng:

汝nhữ 獨độc 在tại 此thử將tương 無vô 怖bố 懼cụ 耶da
"Chỉ một mình ở đây, ông có gặp sợ hãi gì không?"

比Bỉ 丘Khâu 稽khể 首thủ 白bạch 言ngôn
Vị Bhikṣu cúi đầu và thưa rằng:

初sơ 未vị 曾tằng 入nhập 山sơn在tại 此thử 實thật 憂ưu
"[Thưa Thế Tôn!] Con chưa từng bao giờ sống ở trên núi. Nơi đây thật sự ưu sầu!"

須tu 臾du 之chi 間gian有hữu 一nhất 野dã 象tượng 王vương 來lai在tại 邊biên 倚ỷ 一nhất 樹thụ 臥ngọa
Khi vừa nói đến đây, bỗng có một con voi chúa hoang đi đến bên cạnh của một gốc cây để dựa và nằm nghỉ.

心tâm 獨độc 歡hoan 喜hỷ
Trong lòng của nó tràn đầy vui sướng và nghĩ thầm:

遠viễn 離ly 諸chư 象tượng一nhất 何hà 快khoái 哉tai
"Mình đã lìa xa đàn voi và rời khỏi ngục tù ái ân. Ôi vui lắm thay!"

佛Phật 知tri 象tượng 意ý告cáo 比Bỉ 丘Khâu 曰viết
Đức Phật biết được ý niệm của voi, nên bảo vị Bhikṣu đó rằng:

汝nhữ 寧ninh 知tri 是thị 象tượng所sở 由do 來lai 不phủ
"Ông có biết con voi này từ đâu đến đây không?

對đối 曰viết
Đáp rằng:

不bất 審thẩm
"Dạ, con không biết!"

佛Phật 告cáo 比Bỉ 丘Khâu
Phật bảo vị Bhikṣu đó rằng:

此thử 象tượng 眷quyến 屬thuộc大đại 小tiểu 五ngũ 百bách 餘dư 頭đầu厭yếm 患hoạn 小tiểu 象tượng捨xả 來lai 至chí 此thử倚ỷ 樹thụ 而nhi 臥ngọa
"Quyến thuộc cả lớn lẫn nhỏ của con voi này có hơn 500 con. Do nó chán chường với những con voi nhỏ nên đã bỏ đi tới đây, và dựa vào cây để nằm nghỉ.

自tự 念niệm
Nó nghĩ thầm:

得đắc 離ly 恩ân 愛ái 牢lao 獄ngục一nhất 何hà 快khoái 哉tai
'Mình đã lìa xa đàn voi và rời khỏi ngục tù ái ân. Ôi vui lắm thay!'

象tượng 是thị 畜súc 生sanh猶do 思tư 閑nhàn 靜tĩnh況huống 汝nhữ 捨xả 家gia欲dục 求cầu 度độ 世thế方phương 以dĩ 獨độc 自tự欲dục 求cầu 伴bạn 侶lữ愚ngu 冥minh 伴bạn 侶lữ多đa 所sở 傷thương 敗bại獨độc 住trú 無vô 對đối亦diệc 無vô 謀mưu 議nghị寧ninh 獨độc 修tu 道Đạo不bất 用dụng 愚ngu 伴bạn
Voi là loài thú mà cũng nghĩ đến nơi nhàn tĩnh. Huống nữa ông là người xuất gia và mong vượt khỏi thế gian. Nếu tu hành không có bạn tốt thì hãy sống một mình; chớ có kết bạn với những kẻ ngu, bởi họ sẽ gây nhiều sự tổn hại. Hãy sống một mình và cũng không bàn luận. Hãy sống một mình tu Đạo, cần chi bạn bè ngu si để làm gì."

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

學học 無vô 朋bằng 類loại
不bất 得đắc 善thiện 友hữu
寧ninh 獨độc 守thủ 善thiện
不bất 與dữ 愚ngu 偕giai

"Tu học nếu không có
Bạn tốt thiện tri thức
Giữ thiện tu một mình
Đừng cùng với kẻ ngu

樂nhạo 戒giới 學học 行hành
奚hề 用dụng 伴bạn 為vi
獨độc 善thiện 無vô 憂ưu
如như 空không 野dã 象tượng

Tu học siêng trì giới
Cần chi bạn đồng hành?
Một mình chẳng ưu phiền
Như voi giữa rừng hoang"

佛Phật 說thuyết 是thị 時thời比Bỉ 丘Khâu 意ý 解giải內nội 思tư 聖thánh 教giáo即tức 得đắc 應Ứng 真Chân谷cốc 中trung 鬼quỷ 神thần亦diệc 皆giai 聞văn 解giải為vi 佛Phật 弟đệ 子tử受thọ 誓thệ 誡giới 勅sắc不bất 復phục 侵xâm 民dân佛Phật 與dữ 比Bỉ 丘Khâu共cộng 還hoàn 精tinh 舍xá
Khi Phật nói lời ấy xong, vị Bhikṣu tâm khai ý giải, tâm tư duy thánh giáo, và liền thành bậc Ứng Chân. Bấy giờ quỷ thần ở trong sơn cốc cũng đều nghe được và tỏ ngộ. Họ xin làm đệ tử của Phật, thọ trì giới cấm, và chẳng còn xâm nhiễu người nữa. Sau đó, Đức Phật và vị Bhikṣu cùng trở về tinh xá.




昔tích 佛Phật 在tại 舍Xá 衛Vệ 國Quốc祇Kỳ 桓Hoàn 精Tinh 舍Xá為vì 諸chư 天thiên 人nhân宣tuyên 演diễn 經Kinh 法Pháp
Thuở xưa Đức Phật diễn nói Kinh Pháp cho hàng trời người ở tại Tinh xá Kỳ Viên gần thành Phong Đức.

時thời 羅La 閱Duyệt 祇Kỳ 國Quốc有hữu 二nhị 新tân 學học 比Bỉ 丘Khâu欲dục 往vãng 見kiến 佛Phật二nhị 國quốc 中trung 間gian曠khoáng 無vô 人nhân 民dân于vu 時thời 旱hạn 熱nhiệt泉tuyền 水thủy 枯khô 竭kiệt二nhị 人nhân 飢cơ 渴khát熱nhiệt 暍hát 呼hô 吸hấp故cố 泉tuyền 之chi 中trung有hữu 升thăng 餘dư 水thủy而nhi 有hữu 細tế 蟲trùng不bất 可khả 得đắc 飲ẩm
Bấy giờ có hai vị Bhikṣu mới xuất gia ở thành Vương Xá và muốn đến bái kiến Đức Phật. Tuy nhiên, ở khoảng giữa của hai nước đó đều chẳng có người sinh sống. Đương thời nơi đó bị hạn hán; các dòng nước đều khô cạn. Hai vị Bhikṣu vừa đói vừa khát, hơi thở khô khan và nóng bức. Khi ấy ở giữa đường có một dòng nước đã khô cạn từ lâu và chỉ còn một chút nước đọng, nhưng trong nước lại có vi trùng và không thể uống được.

二nhị 人nhân 相tương 對đối 曰viết
Hai vị Bhikṣu nói với nhau rằng:

故cố 從tùng 遠viễn 來lai欲dục 望vọng 見kiến 佛Phật不bất 圖đồ 今kim 日nhật沒một 命mạng 於ư 此thử 也dã
"Chúng ta lặn lội từ xa đến và hy vọng có thể thấy Đức Phật. Tuy nhiên, e rằng hôm nay chúng ta sẽ phải bỏ mạng ở chốn này."

一nhất 人nhân 言ngôn 曰viết
Có một vị Bhikṣu nói rằng:

且thả 當đương 飲ẩm 水thủy以dĩ 濟tế 吾ngô 命mạng進tiến 前tiền 見kiến 佛Phật焉yên 知tri 其kỳ 餘dư 也dã
"Hay là hãy uống nước này để cứu mạng của mình trước, rồi tiếp tục lên đường gặp Phật. Đức Phật tất sẽ thông cảm cho chúng ta."

一nhất 人nhân 答đáp 曰viết
Vị Bhikṣu khác trả lời:

佛Phật 之chi 明minh 戒giới仁nhân 慈từ 為vi 首thủ殘tàn 生sanh 自tự 活hoạt見kiến 佛Phật 無vô 益ích寧ninh 守thủ 戒giới 而nhi 死tử不bất 犯phạm 戒giới 而nhi 生sanh 也dã
"Giới luật của Phật có dạy rất rõ, là hãy lấy từ bi làm đầu. Nếu sát sanh để sanh tồn thì dù có thấy Phật cũng vô ích. Mình thà chết mà giữ giới, còn hơn sống sót mà phạm giới."

一nhất 人nhân 即tức 起khởi極cực 意ý 快khoái 飲ẩm於ư 是thị 進tiến 路lộ
Vị Bhikṣu kia liền đứng dậy và bụm nước uống cho thỏa thích, rồi tiếp tục lên đường.

一nhất 人nhân 不bất 飲ẩm遂toại 致trí 殞vẫn 命mạng即tức 生sanh 第đệ 二nhị忉Đao 利Lợi 天Thiên 上thượng思tư 惟duy 自tự 省tỉnh即tức 識thức 宿túc 命mạng
Vị Bhikṣu không chịu uống nước nên dọc đường đã bỏ mạng. Sau khi chết, thần thức liền sanh lên tầng trời thứ nhì là trời Tam Thập Tam. Khi đã sanh thiên thượng, ngài tư duy quán xét và lập tức biết rõ việc đời trước của mình.


[Ngài nghĩ thầm:]

持trì 戒giới 不bất 犯phạm今kim 來lai 生sanh 此thử信tín 哉tai 福phước 報báo其kỳ 不bất 遠viễn 矣hĩ
"Do trì giới và không vi phạm nên hiện tại mình được sanh đến đây. Lành thay phước báo của sự tín thọ giới luật. Việc đó đã chẳng uổng phí."

即tức 持trì 華hoa 香hương下hạ 到đáo 佛Phật 所sở為vì 佛Phật 作tác 禮lễ卻khước 住trụ 一nhất 面diện
Và thế là, ngài liền cầm hương hoa và bay xuống đến chỗ của Phật để cúng dường, rồi đảnh lễ Đức Phật và đứng qua một bên.

其kỳ 飲ẩm 水thủy 者giả道đạo 路lộ 疲bì 頓đốn經kinh 日nhật 乃nãi 達đạt
Còn về vị Bhikṣu đã uống nước, trên đường đi phải chịu mệt nhọc vô vàn và trải qua nhiều ngày mới đến được tinh xá của Phật.

見kiến 佛Phật 神thần 德đức至chí 尊tôn 巍nguy 巍nguy稽khể 首thủ 禮lễ 畢tất涕thế 泣khấp 自tự 陳trần
Khi thấy thần đức chí tôn lồng lộng của Phật, vị Bhikṣu cúi đầu đảnh lễ, rồi rơi lệ than khóc và kể lại sự việc:

我ngã 伴bạn 一nhất 人nhân於ư 彼bỉ 命mạng 終chung感cảm 其kỳ 不bất 達đạt願nguyện 佛Phật 知tri 之chi
"[Thưa Thế Tôn!] Con cùng với một vị Bhikṣu nữa đồng khởi hành đi đến đây, nhưng ông ấy đã bỏ mạng ở giữa đường. Con thương cảm ông ấy đã không đến được. Mong Phật hãy hiểu cho."

佛Phật 言ngôn
Đức Phật bảo:

吾ngô 已dĩ 明minh 矣hĩ
"Ta đã biết rồi!"

佛Phật 以dĩ 手thủ 指chỉ 曰viết
Phật lấy ngón tay chỉ vào vị thiên nhân và nói rằng:

今kim 此thử 天thiên 人nhân則tắc 汝nhữ 伴bạn 也dã全toàn 戒giới 生sanh 天thiên又hựu 先tiên 至chí 矣hĩ
"Hiện tại, vị thiên nhân này đây chính là người đã cùng đi với ông đó. Do giữ giới trọn vẹn nên ông ấy được sanh lên trời và còn đến trước ông nữa."

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn披phi 胸hung 示thị 之chi
Khi ấy Thế Tôn vạch ngực của mình cho vị Bhikṣu đó thấy và nói rằng:

汝nhữ 觀quan 我ngã 形hình不bất 奉phụng 我ngã 戒giới雖tuy 云vân 見kiến 我ngã我ngã 不bất 見kiến 汝nhữ 也dã去khứ 我ngã 萬vạn 里lý奉phụng 行hành 經Kinh 戒giới此thử 人nhân 則tắc 為vi在tại 我ngã 目mục 前tiền
"Ông thấy thân hình của Ta, nhưng không phụng trì giới luật của Ta. Tuy gọi là thấy Ta, nhưng Ta không thấy ông. Dù ai cách Ta vạn dặm, nhưng nếu phụng hành Kinh giới thì người ấy cũng như đang ở trước mắt Ta vậy."

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

學học 而nhi 多đa 聞văn
持trì 戒giới 不bất 失thất
兩lưỡng 世thế 見kiến 譽dự
所sở 願nguyện 者giả 得đắc

"Tu học mà đa văn
Trì giới không sai phạm
Hiện đời cùng vị lai
Tiếng thơm sở nguyện thành

學học 而nhi 寡quả 聞văn
持trì 戒giới 不bất 完hoàn
兩lưỡng 世thế 受thọ 痛thống
喪táng 其kỳ 本bổn 願nguyện

Tu học kém hiểu biết
Trì giới không trọn vẹn
Hiện đời cùng vị lai
Thọ khổ bổn nguyện tan

夫phù 學học 有hữu 二nhị
常thường 親thân 多đa 聞văn
安an 諦Đế 解giải 義nghĩa
雖tuy 困khốn 不bất 耶da

Học Đạo có hai điều
Luôn gần bậc đa văn
Chân Đế giải nghĩa thâm
Tuy nhọc chẳng đọa tà"

於ư 是thị 比Bỉ 丘Khâu聞văn 偈kệ 慚tàm 怖bố稽khể 首thủ 悔hối 過quá嘿mặc 思tư 所sở 行hành天thiên 人nhân 聞văn 偈kệ心tâm 意ý 欣hân 悅duyệt逮đãi 得đắc 法Pháp 眼nhãn天thiên 人nhân 眾chúng 會hội莫mạc 不bất 奉phụng 行hành
Khi nghe kệ xong, vị Bhikṣu sợ hãi và xấu hổ, rồi hướng về Đức Phật mà cúi đầu, sám hối lỗi lầm, và thầm nghĩ về hành vi không đúng của mình. Khi vị thiên nhân nghe kệ xong, tâm ý của ngài vui mừng và liền được Pháp nhãn thanh tịnh. Bấy giờ hàng trời người ở trong chúng hội, không ai là chẳng phụng hành.

多Đa 聞Văn 品Phẩm 第đệ 三tam
Phẩm 3: Đa Văn


昔tích 舍Xá 衛Vệ 國Quốc有hữu 一nhất 貧bần 家gia夫phu 婦phụ 慳san 惡ác不bất 信tín 道Đạo 德đức佛Phật 愍mẫn 其kỳ 愚ngu現hiện 為vi 貧bần 凡phàm 沙Sa 門Môn詣nghệ 門môn 分phân 衛vệ
Thuở xưa ở thành Phong Đức có một gia đình nghèo. Cả chồng lẫn vợ đều keo kiệt, thô ác, và không tin Đạo Pháp. Đức Phật thương xót cho đôi vợ chồng ngu si nên biến làm một Đạo Nhân bần khổ và đến ở trước cổng nhà của họ để khất thực.

時thời 夫phu 不bất 在tại其kỳ 婦phụ 罵mạ 詈lị無vô 有hữu 道Đạo 理lý
Lúc đó người chồng đã đi vắng, cô vợ mắng chửi vị Đạo Nhân thậm tệ và không có lý lẽ.

沙Sa 門Môn 語ngứ 曰viết
Vị Đạo Nhân bảo rằng:

吾ngô 為vi 道Đạo 士sĩ乞khất 匃cái 自tự 居cư不bất 得đắc 罵mạ 詈lị唯duy 望vọng 一nhất 食thực 耳nhĩ
"Tôi là một Đạo Nhân. Tôi đi khất thực là để duy trì mạng sống. Xin đừng mắng chửi. Tôi chỉ mong có thể cho một chút thức ăn."

主chủ 人nhân 婦phụ 曰viết
Cô vợ nói rằng:

若nhược 汝nhữ 立lập 死tử食thực 尚thượng 叵phả 得đắc況huống 今kim 平bình 健kiện欲dục 望vọng 我ngã 食thực但đãn 稽khể 留lưu 時thời 節tiết不bất 如như 早tảo 去khứ
"Cho dù ông có đứng chết ở đây, tôi còn không cho thức ăn. Huống nữa ông đang khỏe mạnh mà muốn xin thức ăn của tôi à! Ông đừng lãng phí thời gian nữa, chi bằng hãy mau rời khỏi."

於ư 是thị 沙Sa 門Môn住trụ 立lập 其kỳ 前tiền戴đái 眼nhãn 抒trữ 氣khí便tiện 現hiện 死tử 相tướng身thân 體thể 膖phùng 脹trướng鼻tị 口khẩu 蟲trùng 出xuất腹phúc 潰hội 腸tràng 爛lạn不bất 淨tịnh 流lưu 漫mạn其kỳ 婦phụ 見kiến 此thử恐khủng 怖bố 失thất 聲thanh棄khí 而nhi 捨xả 走tẩu
Khi ấy vị Đạo Nhân đang đứng ở trước cổng, bỗng nhiên mắt trợn trắng, hơi thở ngừng đập, và liền hiện ra tướng chết. Thân xác trương sình, ở lỗ mũi và miệng có trùng chui ra, vùng bụng nứt vỡ, ruột rữa nát, và chảy ào ra những thứ bất tịnh. Khi thấy thế, cô vợ kinh hoàng sửng sốt và bỏ nhà mà chạy.

於ư 是thị 道Đạo 人Nhân忽hốt 然nhiên 捨xả 去khứ去khứ 舍xá 數sổ 里lý坐tọa 樹thụ 下hạ 息tức其kỳ 夫phu 來lai 歸quy道đạo 中trung 見kiến 婦phụ怪quái 其kỳ 驚kinh 怖bố
Bấy giờ Đạo Nhân hốt nhiên rời khỏi. Cách nhà khoảng vài dặm, cô vợ ngồi nghỉ dưới một gốc cây. Lúc đó người chồng đang trên đường về nhà thì bỗng gặp cô vợ ở giữa đường, và rất kinh ngạc về sự hốt hoảng của vợ mình.

其kỳ 婦phụ 語ngứ 夫phu
Cô vợ nói với chồng rằng:

有hữu 一nhất 沙Sa 門Môn見kiến 怖bố 如như 此thử
"Có một Đạo Nhân đến nhà của chúng ta khất thực, nhưng bỗng nhiên bị chết, nên mới làm cho em hoảng sợ như thế."

夫phu 大đại 瞋sân 怒nộ問vấn
Nghe xong, người chồng vô cùng phẫn nộ và hỏi rằng:

為vi 所sở 在tại
"Hắn đang ở đâu?"

婦phụ 曰viết
Cô vợ đáp rằng:

已dĩ 去khứ想tưởng 亦diệc 未vị 遠viễn
"Đã bỏ đi rồi! Chắc cũng chưa rời xa lắm đâu!"

夫phu 即tức 執chấp 弓cung 帶đái 刀đao尋tầm 迹tích 往vãng 逐trục張trương 弓cung 拔bạt 刀đao奔bôn 走tẩu 直trực 前tiền欲dục 斫chước 道Đạo 人Nhân道Đạo 人Nhân 即tức 化hóa作tác 琉lưu 璃ly 小tiểu 城thành以dĩ 自tự 圍vi 遶nhiễu其kỳ 人nhân 繞nhiễu 城thành 數sổ 匝táp不bất 能năng 得đắc 入nhập
Người chồng lập tức cầm cung tên và mang dao vào mình, rồi lần theo vết mà truy đuổi. Bấy giờ anh ta chạy vội về phía trước, giương cung giơ dao và muốn chém Đạo Nhân. Đạo Nhân liền hóa làm một thành nhỏ bằng lưu ly ở xung quanh để tự bảo hộ. Bấy giờ kẻ thô lỗ đi vòng quanh thành vài vòng nhưng chẳng thể nào vào được.

即tức 問vấn 道Đạo 人Nhân
Liền hỏi Đạo Nhân rằng:

何hà 不bất 開khai 門môn
"Sao không mở cửa?"

道Đạo 人Nhân 曰viết
Đạo Nhân trả lời:

欲dục 使sử 開khai 門môn棄khí 汝nhữ 弓cung 刀đao
"Nếu muốn tôi mở cửa thì hãy bỏ cung đao của ông xuống."

其kỳ 人nhân 自tự 念niệm
Kẻ thô lỗ tự nghĩ:

當đương 隨tùy 其kỳ 語ngữ若nhược 當đương 得đắc 入nhập手thủ 拳quyền 加gia 之chi
"Mình hãy làm theo lời hắn nói. Một khi được vào trong, mình sẽ dùng nắm tay đánh hắn."

尋tầm 棄khí 弓cung 刀đao門môn 故cố 不bất 開khai
Rồi kẻ thô lỗ bỏ xuống cung đao, nhưng cửa vẫn không mở.

復phục 語ngứ 道Đạo 人Nhân
Kẻ đó lại nói với Đạo Nhân rằng:

已dĩ 棄khí 弓cung 刀đao門môn 何hà 不bất 開khai
"Tôi đã bỏ xuống cung đao rồi. Sao còn chưa mở cửa?"

道Đạo 人Nhân 曰viết
Đạo Nhân trả lời:

吾ngô 使sử 汝nhữ 棄khí 心tâm 中trung惡ác 意ý 弓cung 刀đao 耳nhĩ非phi 謂vị 手thủ 中trung 弓cung 刀đao 也dã
"Tôi bảo ông bỏ xuống ác ý của cung đao ở trong tâm, chứ không phải cung đao đang cầm trong tay."

於ư 是thị 其kỳ 人nhân心tâm 驚kinh 體thể 悸quý
Khi ấy, lòng của kẻ kia run rẩy sợ hãi và nghĩ thầm:

道Đạo 人Nhân 神thần 聖thánh乃nãi 知tri 我ngã 心tâm
"Đạo Nhân là thần thánh nên đã biết ý nghĩ của mình."

即tức 便tiện 叩khấu 頭đầu 悔hối 過quá稽khể 首thủ 道Đạo 人Nhân 曰viết
Ngay sau đó, kẻ thô lỗ khấu đầu sám hối lỗi lầm, rồi cúi đầu thưa với Đạo Nhân rằng:

我ngã 有hữu 弊tệ 妻thê不bất 識thức 真Chân 人Nhân使sử 我ngã 興hưng 惡ác願nguyện 小tiểu 垂thùy 慈từ莫mạc 便tiện 見kiến 捨xả今kim 欲dục 將tương 來lai勸khuyến 令linh 修tu 道Đạo
"Con có một con vợ thật ngu si, đã không biết ngài là bậc thánh nhân, và còn khiến con khởi sanh niệm ác. Xin ngài rủ lòng từ bi và chớ vội rời khỏi. Con nay muốn dẫn vợ con đến để ngài khuyên răn và chỉ dạy tu Đạo."

即tức 起khởi 還hoàn 歸quy
Người chồng lập tức đứng dậy và trở về nhà.

其kỳ 妻thê 問vấn 曰viết
Cô vợ hỏi rằng:

沙Sa 門Môn 所sở 在tại
"Đạo Nhân đang ở đâu?"

其kỳ 夫phu 具cụ 說thuyết神thần 變biến 之chi 德đức
Người chồng liền kể lại tất cả những sự thần thông biến hóa của vị Đạo Nhân:

今kim 者giả 在tại 彼bỉ卿khanh 自tự 宜nghi 往vãng改cải 悔hối 滅diệt 罪tội
"Ngài đang ở chỗ kia. Em hãy tự đến để sám hối nghiệp tội."

於ư 是thị 夫phu 妻thê至chí 道Đạo 人Nhân 所sở五ngũ 體thể 悔hối 過quá願nguyện 為vi 弟đệ 子tử
Và thế là, hai vợ chồng đến chỗ của Đạo Nhân, đầu đảnh lễ sát đất, sám hối lỗi lầm, và xin làm đệ tử.

長trường 跪quỵ 問vấn 曰viết
Rồi quỳ hai gối và hỏi rằng:

道Đạo 人Nhân 神thần 變biến聖thánh 達đạt 乃nãi 爾nhĩ有hữu 琉lưu 璃ly 城thành堅kiên 固cố 難nan 踰du志chí 明minh 意ý 定định永vĩnh 無vô 憂ưu 患hoạn行hành 何hà 道Đạo 德đức致trí 此thử 神thần 妙diệu
"Thần thông biến hóa của ngài đã đạt đến cảnh giới của bậc thánh. Thành lưu ly do ngài biến hóa thật kiên cố và không sao vào được. Với tâm minh liễu và ý kiên định, ngài đã vĩnh viễn chẳng còn ưu sầu và hoạn nạn. Xin hỏi ngài đã tu hành Đạo gì mà được thần thông diệu dụng như thế?"

道Đạo 人Nhân 答đáp 曰viết
Đạo Nhân trả lời:

吾ngô 博bác 學học 無vô 厭yếm奉phụng 法Pháp 不bất 懈giải精tinh 進tấn 持trì 戒giới慧tuệ 不bất 放phóng 逸dật緣duyên 是thị 得đắc 道Đạo自tự 致trí 泥Nê 洹Hoàn
"Ta siêng tu học mà không chán mỏi và phụng hành Phật Pháp mà không lười biếng. Ta tinh tấn trì giới và tu tập trí tuệ mà chẳng buông lung. Do vậy, ta đắc Đạo và tự đạt đến tịch diệt."

於ư 是thị 道Đạo 人Nhân因nhân 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Nhân đó, Đạo Nhân liền nói kệ rằng:

多đa 聞văn 能năng 持trì 故cố
奉phụng 法Pháp 為vi 垣viên 牆tường
精tinh 進tấn 難nan 踰du 毀hủy
從tùng 是thị 戒giới 慧tuệ 成thành

"Đa văn vững tu hành
Trì Pháp làm bức tường
Tinh tấn hủy khó leo
Từ đó giới tuệ thành

多đa 聞văn 令linh 志chí 明minh
已dĩ 明minh 智trí 慧tuệ 增tăng
智trí 則tắc 博bác 解giải 義nghĩa
見kiến 義nghĩa 行hành 法Pháp 安an

Đa văn khai sáng tâm
Tâm sáng trí tuệ tăng
Trí tăng rộng giải nghĩa
Thấy nghĩa hành Pháp an

多đa 聞văn 能năng 除trừ 憂ưu
能năng 以dĩ 定định 為vi 歡hoan
善thiện 說thuyết 甘cam 露lộ 法Pháp
自tự 致trí 得đắc 泥Nê 洹Hoàn

Đa văn khéo trừ lo
Khéo nhập thiền định an
Khéo giảng Pháp cam lộ
Tự đắc Đạo tịch diệt

聞văn 為vi 知tri 法Pháp 律luật
解giải 疑nghi 亦diệc 見kiến 正chánh
從tùng 聞văn 捨xả 非phi 法pháp
行hành 到đáo 不bất 死tử 處xứ

Nghe Pháp biết Kinh giới
Trừ nghi thấy chân lý
Do nghe lìa pháp ác
Đi đến nơi bất tử"

道Đạo 人Nhân 說thuyết 偈kệ 已dĩ現hiện 佛Phật 光quang 相tướng洪hồng 暉huy 赫hách 奕dịch照chiếu 曜diệu 天thiên 地địa夫phu 妻thê 驚kinh 愕ngạc精tinh 神thần 戰chiến 懼cụ改cải 惡ác 洗tẩy 心tâm頭đầu 腦não 打đả 地địa壞hoại 二nhị 十thập 億ức 惡ác得đắc 須Tu 陀Đà 洹Hoàn 道Đạo
Khi nói kệ xong, Đạo Nhân hiện ra uy tướng quang minh của Phật, sáng chói hiển hách và chiếu sáng rực rỡ khắp thiên địa. Bấy giờ hai vợ chồng kinh hoàng, run rẩy sợ hãi, và quyết định sửa đổi tâm tánh hung ác. Rồi hai vợ chồng cúi đầu đảnh lễ sát đất. Lập tức, họ diệt trừ 20 ức kiếp nghiệp tội sanh tử và đắc Quả Nhập Lưu.




昔tích 佛Phật 在tại 拘Câu 睒Thiểm 尼Ni 國Quốc美Mỹ 音Âm 精Tinh 舍Xá與dữ 諸chư 四tứ 輩bối廣quảng 說thuyết 大đại 法Pháp
Thuở xưa Đức Phật cùng với bốn chúng đệ tử ở tại Tinh xá Mỹ Âm trong nước Bất Tĩnh và Ngài rộng nói đại Pháp cho họ.

有hữu 一nhất 梵Phạm 志Chí 道Đạo 士sĩ智trí 博bác 通thông 達đạt眾chúng 經kinh 備bị 舉cử無vô 事sự 不bất 貫quán貢cống 高cao 自tự 譽dự天thiên 下hạ 無vô 比tỉ求cầu 敵địch 而nhi 行hành無vô 敢cảm 應ứng 者giả晝trú 日nhật 執chấp 炬cự行hành 城thành 市thị 中trung
Bấy giờ có một Phạm Chí Đạo sĩ tài cao học rộng, hết thảy điển tịch minh luận đều xem qua, và không chuyện gì mà chẳng hiểu. Lại nữa, người này rất kiêu căng, khoe khoang, và tự nhận mình là thiên hạ vô địch. Ông ta đi khắp nơi tìm đối thủ để biện luận nhưng chẳng ai dám tranh tài. Ở giữa ban ngày của một ngày nọ, ông cầm một bó đuốc đang cháy và đi khắp cả thành.

人nhân 問vấn 之chi 曰viết
Khi ấy có người hỏi rằng:

何hà 以dĩ 晝trú 日nhật執chấp 炬cự 而nhi 行hành
"Tại sao ngài cầm bó đuốc mà đi ở giữa ban ngày như thế?"

梵Phạm 志Chí 答đáp 曰viết
Phạm Chí đáp rằng:

世thế 皆giai 愚ngu 冥minh目mục 無vô 所sở 見kiến是thị 以dĩ 執chấp 炬cự以dĩ 照chiếu 之chi 耳nhĩ
"Thế gian đều ngu muội. Tuy họ có mắt nhưng chẳng thấy gì. Cho nên ta mới cầm đuốc để soi cho họ."

觀quan 察sát 世thế 間gian無vô 敢cảm 言ngôn 者giả佛Phật 知tri 梵Phạm 志Chí宿túc 福phước 應ưng 度độ而nhi 行hành 貢cống 高cao求cầu 勝thắng 名danh 譽dự不bất 計kế 無vô 常thường自tự 恃thị 憍kiêu 恣tứ如như 是thị 當đương 墮đọa太Thái 山Sơn 地Địa 獄Ngục無vô 央ương 數số 劫kiếp求cầu 出xuất 甚thậm 難nan
Quan sát theo lẽ của thế gian, không một ai dám biện luận với ông ta hết. Khi ấy Đức Phật biết phước đức của Phạm Chí ở đời trước và đáng được hóa độ. Nếu không hóa độ, với hành vi kiêu ngạo để cầu tiếng tăm, chẳng biết vô thường, và tự đại buông lung như thế, ông ta sẽ đọa Địa ngục Thái Sơn để thọ khổ đến vô số kiếp và rất khó ra khỏi.

佛Phật 即tức 化hóa 作tác 一nhất 賢hiền 者giả居cư 肆tứ 上thượng 坐tọa即tức 呼hô 梵Phạm 志Chí何hà 為vi 作tác 此thử
Bấy giờ Đức Phật hóa làm một vị hiền minh, ngồi trên bực cao ở ngã tư đường, gọi Phạm Chí đến, và hỏi vì sao lại làm như thế.

梵Phạm 志Chí 答đáp 曰viết
Phạm Chí đáp rằng:

以dĩ 眾chúng 人nhân 冥minh晝trú 夜dạ 不bất 見kiến 明minh故cố 執chấp 炬cự 火hỏa而nhi 照chiếu 之chi 耳nhĩ
"Do bởi người thế gian ở trong tối tăm nên chẳng thể phân biệt rõ giữa ngày và đêm. Vì vậy tôi mới cầm đuốc để soi cho họ."

賢hiền 者giả 重trùng 問vấn 梵Phạm 志Chí
Vị hiền minh lại hỏi Phạm Chí:

經kinh 中trung 有hữu 四tứ 明minh 法pháp為vi 知tri 之chi 不phủ
"Trong minh luận có bốn minh pháp, ông có biết chăng?"

對đối 曰viết
Đáp rằng:

不bất 審thẩm何hà 謂vị 四tứ 明minh 法pháp
"Không biết. Xin hỏi bốn minh pháp là những gì?"

一nhất 者giả明minh 於ư 天thiên 文văn 地địa 理lý和hòa 調điều 四tứ 時thời二nhị 者giả明minh 於ư 星tinh 宿tú分phân 別biệt 五ngũ 行hành三tam 者giả明minh 於ư 治trị 國quốc綏tuy 化hóa 有hữu 方phương四tứ 者giả明minh 於ư 將tướng 兵binh固cố 而nhi 無vô 失thất
"
1. hiểu rõ thiên văn địa lý và thời tiết trong bốn mùa
2. hiểu rõ tinh tú và quan hệ của ngũ hành
3. hiểu rõ chánh lý trị quốc và phương thức giao thiệp với các nước
4. hiểu rõ cách điều binh khiển tướng để phòng vệ nước nhà khỏi bị mất

卿khanh 為vi 梵Phạm 志Chí有hữu 此thử 四tứ 明minh 法pháp 以dĩ 不phủ
Ông là một Phạm Chí, vậy ông có biết bốn loại minh pháp này chăng?"

梵Phạm 志Chí 慚tàm 愧quý棄khí 炬cự 叉xoa 手thủ有hữu 不bất 及cập 心tâm佛Phật 知tri 其kỳ 意ý即tức 還hoàn 復phục 身thân光quang 明minh 炳bỉnh 然nhiên晃hoảng 照chiếu 天thiên 地địa
Khi ấy Phạm Chí cảm thấy xấu hổ, rồi bỏ đuốc xuống đất, chắp tay và tự nghĩ không bằng vị hiền minh này. Đức Phật biết tâm niệm của ông ta, nên hiện lại thân tướng quang minh và chiếu sáng hiển hách thiên địa.

便tiện 持trì 梵Phạm 聲thanh為vì 梵Phạm 志Chí 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Sau đó Đức Phật liền dùng tiếng Phạm âm và vì Phạm Chí mà nói kệ rằng:

若nhược 多đa 少thiểu 有hữu 聞văn
自tự 大đại 以dĩ 憍kiêu 人nhân
是thị 如như 盲manh 執chấp 燭chúc
照chiếu 彼bỉ 不bất 自tự 明minh

"Nếu chỉ hiểu chút ít
Tự đại kiêu mạn khinh
Đó như mù cầm đuốc
Soi người chẳng soi mình"

佛Phật 說thuyết 偈kệ 已dĩ告cáo 梵Phạm 志Chí 曰viết
Khi nói kệ xong, Đức Phật bảo Phạm Chí rằng:

冥minh 中trung 之chi 甚thậm無vô 過quá 於ư 汝nhữ而nhi 晝trú 執chấp 炬cự行hành 入nhập 大đại 國quốc如như 卿khanh 所sở 知tri何hà 如như 一nhất 塵trần
"Kẻ ngu si nhất ở thế gian, không ai có thể bằng ông. Ở giữa ban ngày mà ông lại cầm bó đuốc và đi khắp một nước lớn. Những điều ông biết thì chỉ như một hạt bụi.

梵Phạm 志Chí 聞văn 之chi有hữu 慚tàm 愧quý 色sắc即tức 便tiện 叩khấu 頭đầu願nguyện 為vi 弟đệ 子tử佛Phật 即tức 受thọ 之chi令linh 作tác 沙Sa 門Môn意ý 解giải 妄vọng 止chỉ即tức 得đắc 應Ứng 真Chân
Khi nghe xong, Phạm Chí sanh tâm hổ thẹn, rồi cúi đầu đảnh lễ, và xin làm đệ tử. Đức Phật liền thu nhận để trở thành Đạo Nhân. Sau đó, ngài được tâm khai ý giải và liền đắc Đạo Ứng Chân.




昔tích 舍Xá 衛Vệ 國Quốc有hữu 大đại 長trưởng 者giả名danh 曰viết 須Tu 達Đạt得đắc 須Tu 陀Đà 洹Hoàn有hữu 親thân 友hữu 長trưởng 者giả名danh 曰viết 好Hiếu 施Thí不bất 信tín 佛Phật 道Đạo及cập 諸chư 醫y 術thuật
Thuở xưa ở thành Phong Đức có một đại trưởng giả đã đắc Quả Nhập Lưu, tên là Thiện Thí. Ngài có một thân hữu trưởng giả, tên là Hiếu Thí, nhưng người bạn này không tin Phật Pháp và các loại y thuật.

時thời 得đắc 重trọng 病bệnh痿nuy 頓đốn 著trước 床sàng宗tông 親thân 知tri 友hữu皆giai 就tựu 省tỉnh 問vấn勸khuyến 令linh 治trị 病bệnh至chí 死tử 不bất 肯khẳng
Bấy giờ Trưởng giả Hiếu Thí mắc trọng bệnh và nằm liệt ở trên giường. Thân quyến cùng bạn bè đều đến thăm viếng và khuyên hãy chữa trị. Thế nhưng ông thà chết cũng không chịu.

答đáp 眾chúng 人nhân 言ngôn
Ông ta trả lời với mọi người rằng:

吾ngô 事sự 日nhật 月nguyệt忠trung 孝hiếu 君quân 父phụ畢tất 命mạng 於ư 此thử終chung 不bất 改cải 志chí
"Tôi phụng thờ nhật nguyệt, tận trung với vua, và hiếu kính thân phụ. Cho dù phải chết, tôi cũng không bao giờ thay đổi."

須Tu 達Đạt 語ngứ 曰viết
Trưởng giả Thiện Thí khuyên rằng:

吾ngô 所sở 事sự 師sư號hiệu 曰viết 為vi 佛Phật神thần 德đức 廣quảng 被bị見kiến 者giả 得đắc 福phước可khả 試thí 請thỉnh 來lai說thuyết 經Kinh 咒chú 願nguyện聽thính 其kỳ 所sở 說thuyết言ngôn 行hành 進tiến 趣thú何hà 如như 餘dư 道đạo事sự 之chi 與dữ 不phủ隨tùy 卿khanh 所sở 志chí以dĩ 卿khanh 病bệnh 久cửu不bất 時thời 除trừ 差sái勸khuyến 卿khanh 請thỉnh 佛Phật冀ký 蒙mông 其kỳ 福phước
"Đức Phật là vị thầy mà mình đang phụng sự. Thần đức của Ngài quảng đại. Những ai thấy Ngài đều được phước. Bạn hãy thử thỉnh Ngài đến đây một lần để giảng Kinh và chú nguyện. Hãy lắng nghe lời dạy của Ngài. Khi ấy lời nói và hành vi của bạn sẽ đối với những đạo khác như thế nào. Sau đó, bạn có phụng sự hay không thì tùy theo chí nguyện. Do bạn lâm bệnh đã lâu mà chẳng được thuyên giảm, thế nên mình mới khuyên bạn hãy thỉnh Phật để cầu phước."

好Hiếu 施Thí 曰viết
Trưởng giả Hiếu Thí đáp rằng:

佳giai卿khanh 便tiện 為vì 吾ngô 請thỉnh 佛Phật及cập 眾chúng 弟đệ 子tử
"Tốt đấy! Thế thì bạn hãy thỉnh Phật cùng các đệ tử của Ngài đến đây giùm mình!"

須Tu 達Đạt 即tức 便tiện請thỉnh 佛Phật 及cập 僧Tăng往vãng 詣nghệ 其kỳ 門môn佛Phật 放phóng 光quang 明minh內nội 外ngoại 通thông 徹triệt長trưởng 者giả 見kiến 光quang欣hân 然nhiên 身thân 輕khinh佛Phật 前tiền 就tựu 坐tọa慰úy 問vấn 長trưởng 者giả所sở 病bệnh 何hà 如như昔tích 事sự 何hà 神thần作tác 何hà 療liệu 治trị
Sau đó, Trưởng giả Thiện Thí liền thỉnh Phật và chư Tăng. Lúc đến ở trước cổng nhà của Trưởng giả Hiếu Thí, Đức Phật phóng quang minh và làm cho phòng ốc trong ngoài đều thông suốt. Khi thấy hào quang của Phật, Trưởng giả Hiếu Thí rất vui mừng và thân thể được khinh an. Đức Phật đến ở trước trưởng giả rồi ngồi xuống. Ngài an ủi thăm hỏi về bệnh tình của trưởng giả thế nào, đang phụng thờ vị thần nào, và đã chữa trị ra sao.

長trưởng 者giả 白bạch 佛Phật
Trưởng giả thưa với Phật rằng:

奉phụng 事sự 日nhật 月nguyệt君quân 長trưởng 先tiên 人nhân恭cung 敬kính 齋trai 戒giới祈kỳ 請thỉnh 萬vạn 端đoan得đắc 病bệnh 經kinh 時thời未vị 蒙mông 恩ân 祐hựu醫y 藥dược 針châm 炙chích居cư 門môn 所sở 忌kỵ經Kinh 戒giới 福phước 德đức素tố 所sở 不bất 知tri先tiên 人nhân 以dĩ 來lai守thủ 死tử 於ư 此thử
"[Thưa Thế Tôn!] Con phụng thờ nhật nguyệt, tận trung với vua, hiếu kính tổ tiên, cung kính trưởng bối. Con ăn chay giữ giới và cầu nguyện cho muôn sự. Con mắc bệnh lần này đã lâu, nhưng vẫn chưa nhận được ơn lành nào. Y dược và châm cứu là những điều mà gia tộc của con cấm kỵ. Phước đức của giới luật trong Kinh thì con chưa hề hay biết. Từ xưa đến nay, tổ tiên của con vẫn luôn giữ tục lệ này cho đến chết."

佛Phật 告cáo 長trưởng 者giả
Đức Phật bảo trưởng giả:

人nhân 生sanh 世thế 間gian橫hoạnh 死tử 有hữu 三tam
"Con người sống ở thế gian có ba loại chết oan uổng.

有hữu 病bệnh 不bất 治trị為vi 一nhất 橫hoạnh 死tử治trị 而nhi 不bất 慎thận為vi 二nhị 橫hoạnh 死tử憍kiêu 恣tứ 自tự 用dụng不bất 達đạt 逆nghịch 順thuận為vi 三tam 橫hoạnh 死tử
1. Có bệnh mà không chữa trị nên phải bị chết oan uổng.
2. Tuy được chữa trị nhưng trong quá trình điều trị lại không thận trọng nên phải bị chết oan uổng.
3. Do kiêu mạn, buông lung, tự đại, và chẳng hiểu Đạo lý nên phải bị chết oan uổng.

如như 此thử 病bệnh 者giả非phi 日nhật 月nguyệt 天thiên 地địa先tiên 人nhân 君quân 父phụ所sở 能năng 除trừ 遣khiển當đương 以dĩ 明minh 道Đạo隨tùy 時thời 安an 濟tế
Các bệnh như thế không thể nhờ vào nhật nguyệt, thiên địa, tổ tiên, quốc vương, hay thân phụ mà có thể trừ diệt. Nó sẽ được trị lành theo thời gian qua con đường của trí minh.

一nhất 者giả四tứ 大đại 寒hàn 熱nhiệt當đương 須tu 醫y 藥dược二nhị 者giả眾chúng 邪tà 惡ác 鬼quỷ當đương 須tu 經Kinh 戒giới三tam 者giả奉phụng 事sự 賢hiền 聖thánh矜căng 濟tế 窮cùng 厄ách德đức 威uy 神thần 祇kỳ福phước 祐hựu 群quần 生sanh以dĩ 大đại 智trí 慧tuệ消tiêu 去khứ 陰ấm 蓋cái
1. Khi thân thể bị nóng lạnh thì hãy dùng thuốc thang.
2. Nếu bị tà thần ác quỷ thì hãy phụng trì Kinh giới.
3. Phụng sự thánh hiền, cứu giúp kẻ khốn cùng, tu tạo công đức, làm phước lợi cho chúng sanh, và dùng đại trí tuệ để tiêu trừ năm uẩn cùng phiền não.

奉phụng 行hành 如như 此thử現hiện 世thế 安an 吉cát終chung 無vô 抂cuồng 橫hoạnh戒giới 慧tuệ 清thanh 淨tịnh世thế 世thế 常thường 安an
Những ai phụng hành như thế, họ sẽ được an vui cát tường ở đời hiện tại và vĩnh viễn không bị chết oan uổng. Giới đức cùng trí tuệ của họ thanh tịnh và đời đời luôn bình an."

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

事sự 日nhật 為vì 明minh 故cố
事sự 父phụ 為vì 恩ân 故cố
事sự 君quân 以dĩ 力lực 故cố
聞văn 故cố 事sự 道Đạo 人Nhân

"Thờ trời vì ánh sáng
Hiếu cha vì ân đức
Trung vua vì bảo hộ
Kính hiền vì đa văn

人nhân 為vì 命mạng 事sự 毉y
欲dục 勝thắng 依y 豪hào 強cường
法Pháp 在tại 智trí 慧tuệ 處xứ
福phước 行hành 世thế 世thế 明minh

Mạnh khỏe nhờ lương y
Muốn thắng nhờ hào kiệt
Phật Pháp ở trí tuệ
Phước tu sáng muôn đời

察sát 友hữu 在tại 為vi 務vụ
別biệt 伴bạn 在tại 急cấp 時thời
觀quan 妻thê 在tại 房phòng 樂lạc
欲dục 知tri 智trí 在tại 說thuyết

Bạn lành ở công việc
Chân tình lúc hiểm nguy
Hạnh phúc nơi căn buồng
Biết trí qua ngôn lời

為vi 能năng 師sư 見kiến 道Đạo
解giải 疑nghi 令linh 學học 明minh
亦diệc 與dữ 清thanh 淨tịnh 本bổn
能năng 奉phụng 持trì 法Pháp 藏tạng

Minh sư khéo hiện Đạo
Trừ nghi tu học thông
Thanh tịnh gốc phiền não
Pháp tạng khéo phụng trì

聞văn 能năng 今kim 世thế 利lợi
妻thê 子tử 昆côn 弟đệ 友hữu
亦diệc 致trí 後hậu 世thế 福phước
積tích 聞văn 成thành 聖thánh 智trí

Đa văn lợi hiện đời
Vợ con anh em bạn
Cũng được phước đời sau
Tích lũy thành thánh trí

能năng 攝nhiếp 為vi 解giải 義nghĩa
解giải 則tắc 戒giới 不bất 穿xuyên
受thọ 法Pháp 猗ỷ 法Pháp 者giả
從tùng 是thị 疾tật 得đắc 安an

Khéo nhiếp giảng nghĩa thâm
Hiểu rõ chẳng sai phạm
Thọ Pháp nương theo Pháp
Từ đó mau được an

是thị 能năng 散tán 憂ưu 恚khuể
亦diệc 除trừ 不bất 祥tường 衰suy
欲dục 得đắc 安an 隱ẩn 吉cát
當đương 事sự 多đa 聞văn 者giả

Muốn khéo diệt âu lo
Cũng trừ việc hung suy
Muốn được an ổn lành
Hãy kính bậc đa văn"

於ư 是thị 長trưởng 者giả聞văn 佛Phật 說thuyết 法Pháp心tâm 意ý 疑nghi 結kết㸌hoát 然nhiên 雲vân 除trừ良lương 毉y 進tiến 療liệu委ủy 心tâm 道Đạo 德đức四tứ 大đại 安an 靜tĩnh眾chúng 患hoạn 消tiêu 除trừ如như 飲ẩm 甘cam 露lộ中trung 外ngoại 怡di 懌dịch身thân 安an 心tâm 定định得đắc 須Tu 陀Đà 洹Hoàn 道Đạo宗tông 室thất 國quốc 人nhân莫mạc 不bất 敬kính 奉phụng
Khi nghe Phật thuyết Pháp, hoài nghi và phiền não ở trong lòng của trưởng giả hoát nhiên trừ sạch như mây tan. Như một vị lương y khéo chữa bệnh, trưởng giả lập quyết tâm nơi Đạo, bốn đại điều hòa, và bệnh hoạn tiêu trừ như được uống cam lộ. Do thân tâm trong ngoài thanh thản và an định nên ông đắc Quả Nhập Lưu. Bấy giờ thân tộc và mọi người trong nước, không ai là chẳng tôn kính và phụng trì lời Phật dạy.




昔tích 羅La 閱Duyệt 祇Kỳ 國Quốc南nam 有hữu 大đại 山sơn去khứ 城thành 二nhị 百bách 里lý南nam 土thổ 諸chư 國quốc路lộ 由do 此thử 山sơn山sơn 道đạo 深thâm 邃thúy有hữu 五ngũ 百bách 賊tặc依y 嶮hiểm 劫kiếp 人nhân後hậu 遂toại 縱tung 橫hoành所sở 害hại 狼lang 藉tạ眾chúng 賈cổ 被bị 毒độc王vương 路lộ 不bất 通thông國quốc 王vương 追truy 討thảo不bất 能năng 擒cầm 獲hoạch
Thuở xưa có một ngọn núi cao, cách thành Vương Xá khoảng 200 dặm về hướng nam. Từ thành Vương Xá mà muốn đến các nước ở phía nam thì bắt buộc phải băng qua ngọn núi này. Tuy nhiên, con đường đi qua ngọn núi này rất gian nan và còn có 500 đạo tặc ẩn náu để cướp bóc người qua lại. Về sau chúng càng tung hoành, cướp bóc giết hại rất nhiều thương nhân và người qua lại. Thế nên, con đường ở phía nam để đến vương cung bị chặt đứt. Tuy nhà vua cũng đã sai binh lính đi tiêu diệt bọn cướp nhưng chẳng thể nào bắt được.

時thời 佛Phật 在tại 國quốc哀ai 愍mẫn 群quần 生sanh念niệm 彼bỉ 賊tặc 輩bối不bất 知tri 罪tội 福phước
Bấy giờ Đức Phật đang giáo hóa ở nước này, Ngài thương xót chúng sanh và cũng vì thương cảm đối với bọn giặc cướp kia đã không biết tội phước.


[Ngài nghĩ:]

世thế 有hữu 如Như 來Lai而nhi 目mục 不bất 覩đổ法Pháp 鼓cổ 日nhật 震chấn而nhi 耳nhĩ 不bất 聞văn吾ngô 不bất 往vãng 度độ如như 石thạch 沈trầm 淵uyên
"Tuy chúng có mắt nhưng không thấy Như Lai đã xuất hiện ở thế gian. Tuy chúng có tai nhưng không nghe trống Pháp vang rền. Nếu Ta không đến hóa độ, chúng sẽ như đá chìm sâu đáy nước."

化hóa 作tác 一nhất 人nhân著trước 好hảo 衣y 服phục乘thừa 馬mã 帶đái 劍kiếm手thủ 執chấp 弓cung 矢thỉ鞍yên 勒lặc 嚴nghiêm 飾sức金kim 銀ngân 莊trang 校giáo以dĩ 明minh 月nguyệt 珠châu埀thùy 絡lạc 馬mã 體thể跨khóa 馬mã 鳴minh 絃huyền往vãng 入nhập 山sơn 中trung群quần 賊tặc 見kiến 之chi以dĩ 為vi 成thành 事sự作tác 賊tặc 積tích 年niên未vị 有hữu 此thử 便tiện卵noãn 之chi 投đầu 石thạch與dữ 此thử 何hà 異dị群quần 賊tặc 齊tề 頭đầu住trụ 前tiền 圍vi 繞nhiễu挽vãn 弓cung 拔bạt 刀đao諍tranh 欲dục 剝bác 脫thoát
Và thế là, Đức Phật liền hóa làm một người giàu sang, mặc y phục thượng hạng, cưỡi ngựa mang kiếm, và tay cầm cung tên. Yên ngựa và dàm ngựa được làm bằng vàng với bạc. Ở cổ ngựa có treo minh nguyệt trân châu. Rồi ngài cưỡi ngựa khua chiên và tiến vào trong núi. Khi trông thấy, bọn giặc cướp liền chuẩn bị hành động. Mặc dù chúng làm giặc cướp nhiều năm qua, nhưng đối với việc người này tự chui đầu vào lưới thì làm chúng hết sức kinh ngạc. Bọn giặc cướp liền bao vây ở trước ngài, rồi giương cung tuốt đao và tranh nhau muốn chặn bắt.

於ư 是thị 化hóa 人nhân舉cử 弓cung 一nhất 發phát使sử 五ngũ 百bách 賊tặc各các 被bị 一nhất 箭tiễn以dĩ 刀đao 指chỉ 擬nghĩ各các 被bị 一nhất 瘡sang瘡sang 重trọng 箭tiễn 深thâm即tức 皆giai 顛điên 倒đảo
Bấy giờ vị hóa nhân liền giương cung bắn một phát và khiến tất cả 500 tên giặc, ai nấy đều bị trúng một mũi tên. Rồi ngài dùng đao nhắm đến ngón tay trỏ của bọn giặc và làm ai nấy đều bị thương. Do bị trọng thương của đao và tên, bọn chúng đau đớn đến cuồng loạn.

五ngũ 百bách 群quần 賊tặc宛uyển 轉chuyển 臥ngọa 地địa叩khấu 頭đầu 歸quy 降hàng
Và thế là, 500 tên giặc lần lượt nằm lăn lộn trên đất, cúi đầu xin hàng, và thưa rằng:

為vi 是thị 何hà 神thần威uy 力lực 乃nãi 爾nhĩ乞khất 蒙mông 原nguyên 赦xá 活hoạt 微vi 命mạng願nguyện 時thời 拔bạt 箭tiễn使sử 瘡sang 除trừ 愈dũ今kim 者giả 瘡sang 痛thống不bất 可khả 堪kham 忍nhẫn
"Ngài là thần thánh phương nào mà có uy lực như thế? Cầu xin ngài hãy tha mạng cho chúng tôi. Cầu xin ngài hãy nhổ mũi tên ra giùm để vết thương được lành. Chúng tôi bây giờ rất đau đớn và chẳng thể nào nhịn nổi."

化hóa 人nhân 答đáp 曰viết
Hóa nhân đáp rằng:

是thị 瘡sang 不bất 痛thống箭tiễn 不bất 為vi 深thâm天thiên 下hạ 瘡sang 重trọng莫mạc 過quá 於ư 憂ưu殘tàn 害hại 之chi 甚thậm莫mạc 過quá 於ư 愚ngu汝nhữ 懷hoài 貪tham 得đắc 之chi 憂ưu殘tàn 殺sát 之chi 愚ngu刀đao 瘡sang 毒độc 箭tiễn終chung 不bất 可khả 愈dũ此thử 二nhị 事sự 者giả根căn 本bổn 深thâm 固cố勇dũng 力lực 壯tráng 士sĩ所sở 不bất 能năng 拔bạt唯duy 有hữu 經Kinh 戒giới多đa 聞văn 慧tuệ 義nghĩa以dĩ 此thử 明minh 道Đạo療liệu 治trị 心tâm 病bệnh拔bạt 除trừ 憂ưu 愛ái愚ngu 癡si 貢cống 高cao制chế 伏phục 剛cang 強cường豪hào 富phú 貪tham 欲dục積tích 德đức 學học 慧tuệ乃nãi 可khả 得đắc 除trừ長trường 獲hoạch 安an 隱ẩn
"Vết thương này không đau và mũi tên cũng không sâu. Nỗi tan thương nhất trên đời, không gì sánh bằng ưu phiền. Sự tàn hại nhất trên đời, không gì sánh bằng ngu si. Các người đều ôm giữ lòng phiền não của tham dục và việc si mê của tàn sát. Thế nên, vết thương của đao và mũi tên độc trên thân sẽ không bao giờ được lành. Căn nguyên của hai loại trọng thương này rất sâu và cứng chắc. Cho dù sức mạnh của lực sĩ thì cũng không thể nhổ. Chỉ những ai có trí tuệ và đa văn học tập Kinh Pháp cùng giới luật của Phật, thì mới có thể dùng ánh sáng của Phật Pháp để chữa trị tâm bệnh, bạt trừ ưu não, ngu si kiêu mạn, và chế phục lòng tham dục cang cường. Nếu các người có thể tích lũy công đức và tu học trí tuệ, thì mới có thể chữa lành và luôn mãi an ổn."

於ư 是thị 化hóa 人nhân即tức 現hiện 佛Phật 身thân相tướng 好hảo 挺đĩnh 特đặc金kim 顏nhan 英anh 妙diệu即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ vị hóa nhân hiện lại thân Phật với tướng hảo quang minh, kim thân trang nghiêm mỹ diệu, và liền nói kệ rằng:

斫chước 瘡sang 無vô 過quá 憂ưu
射xạ 箭tiễn 無vô 過quá 愚ngu
是thị 壯tráng 莫mạc 能năng 拔bạt
唯duy 從tùng 多đa 聞văn 除trừ

"Trọng thương chẳng bằng ưu
Trúng tên chẳng bằng ngu
Dù mạnh chẳng thể nhổ
Đa văn mới tận trừ

盲manh 者giả 從tùng 得đắc 眼nhãn
闇ám 者giả 從tùng 得đắc 燭chúc
示thị 導đạo 世thế 間gian 人nhân
如như 目mục 將tương 無vô 目mục

Như mù có được mắt
Như ngu có được đuốc
Học rộng dẫn người đời
Như sáng dẫn kẻ mù

是thị 故cố 可khả 捨xả 癡si
離ly 慢mạn 豪hào 富phú 樂lạc
務vụ 學học 事sự 聞văn 者giả
是thị 名danh 積tích 聚tụ 德đức

Cho nên ai trừ si
Ly dục diệt kiêu mạn
Học tập kính đa văn
Đó là tích lũy đức"

於ư 是thị 五ngũ 百bách 人nhân見kiến 佛Phật 光quang 相tướng重trùng 聞văn 此thử 偈kệ叩khấu 頭đầu 歸quy 命mạng剋khắc 心tâm 悔hối 過quá刀đao 瘡sang 毒độc 箭tiễn自tự 然nhiên 除trừ 愈dũ歡hoan 喜hỷ 心tâm 開khai即tức 受thọ 五Ngũ 戒Giới國quốc 界giới 安an 寧ninh莫mạc 不bất 歡hoan 喜hỷ
Khi thấy tướng hảo quang minh của Phật và lại nghe các bài kệ này, 500 người họ liền cúi đầu quy y và thành tâm sám hối lỗi lầm. Do đó, vết thương của đao và mũi tên độc trên thân cũng tự nhiên lành hẳn. Họ rất vui mừng, tâm ý khai mở và xin thọ trì Năm Giới. Kể từ đó, đất nước an bình và không ai là chẳng hoan hỷ.

篤Đốc 信Tín 品Phẩm 第đệ 四tứ
Phẩm 4: Chính Tín


昔tích 者giả 舍Xá 衛Vệ 國Quốc東đông 南nam 有hữu 大đại 江giang水thủy 既ký 深thâm 而nhi 廣quảng有hữu 五ngũ 百bách 餘dư 家gia居cư 在tại 岸ngạn 邊biên未vị 聞văn 道Đạo 德đức度độ 世thế 之chi 行hành習tập 於ư 剛cang 強cường欺khi 詐trá 為vi 務vụ貪tham 利lợi 自tự 恣tứ快khoái 心tâm 極cực 意ý
Thuở xưa có một con sông lớn, cách thành Phong Đức về hướng đông nam. Con sông này chẳng những sâu mà còn rộng. Vào thời ấy có hơn 500 gia đình sinh sống ở cạnh bờ sông. Họ chưa nghe qua Phật Pháp và Pháp tu hành để vượt khỏi thế gian. Bản tánh của họ rất cang cường, lấy dối trá làm nghề nghiệp, tham lợi phóng túng, và ưa khoái làm việc xấu.

世Thế 尊Tôn 常thường 念niệm其kỳ 應ưng 度độ 者giả當đương 往vãng 度độ 之chi知tri 此thử 諸chư 家gia福phước 應ưng 當đương 度độ
Ở mọi thời, Thế Tôn luôn quán sát. Nếu những ai đáng hóa độ, Ngài sẽ đến hóa độ. Khi quán sát phước đức ở đời trước của những người trong thôn này và biết đáng được độ, Ngài liền đến giáo hóa.

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn往vãng 至chí 水thủy 邊biên坐tọa 一nhất 樹thụ 下hạ村thôn 人nhân 見kiến 佛Phật光quang 相tướng 奇kỳ 異dị莫mạc 不bất 驚kinh 肅túc皆giai 往vãng 禮lễ 敬kính或hoặc 拜bái 或hoặc 揖ấp問vấn 訊tấn 起khởi 居cư佛Phật 命mệnh 令linh 坐tọa為vi 說thuyết 經Kinh 法Pháp眾chúng 人nhân 聞văn 之chi而nhi 心tâm 不bất 信tín習tập 於ư 欺khi 怠đãi不bất 信tín 真chân 言ngôn
Bấy giờ Thế Tôn đi đến ven sông và ngồi ở dưới một gốc cây. Khi những người trong thôn thấy quang minh và tướng hảo kỳ diệu của Phật, không ai là chẳng kinh ngạc. Sau đó, họ đều đến cung kính đảnh lễ, hoặc lạy hay vái chào, rồi nói lời thăm hỏi đến Phật. Lúc ấy Đức Phật bảo họ ngồi, rồi thuyết giảng Kinh Pháp. Tuy có nghe Pháp nhưng lòng họ đều chẳng tin. Do tập khí của lười biếng và dối gạt nên họ không thể tin lời chân thật của Phật.

佛Phật 便tiện 化hóa 作tác 一nhất 人nhân從tùng 江giang 南nam 來lai足túc 行hành 水thủy 上thượng正chánh 沒một 其kỳ 踝hõa來lai 至chí 佛Phật 前tiền稽khể 首thủ 禮lễ 佛Phật眾chúng 人nhân 見kiến 之chi莫mạc 不bất 驚kinh 怪quái
Do đó, Đức Phật liền biến hóa một người khác. Vị ấy từ hướng nam của bờ sông kia, chân lướt đi trên nước và nước chỉ đến mắt cá chân, rồi đến ở trước Phật và cúi đầu đảnh lễ Phật. Khi những người trong thôn nhìn thấy, không ai là chẳng kinh ngạc.

問vấn 化hóa 人nhân 曰viết
Họ hỏi hóa nhân rằng:

吾ngô 等đẳng 先tiên 人nhân 以dĩ 來lai居cư 此thử 江giang 邊biên未vị 曾tằng 聞văn 人nhân行hành 水thủy 上thượng 者giả卿khanh 是thị 何hà 人nhân有hữu 何hà 道đạo 術thuật履lý 水thủy 不bất 沒một願nguyện 聞văn 其kỳ 意ý
"Từ đời tổ tiên cho đến nay, chúng tôi đều sống ở bờ sông này. Song chúng tôi chưa từng nghe ai có thể lướt đi trên nước. Ngài là ai? Ngài có phép thuật gì mà đi trên nước và không bị chìm? Xin ngài hãy nói!"

化hóa 人nhân 答đáp 曰viết
Hóa nhân đáp rằng:

吾ngô 是thị 江giang 南nam愚ngu 直trực 之chi 人nhân聞văn 佛Phật 在tại 此thử貪tham 樂nhạo 道Đạo 德đức至chí 南nam 岸ngạn 邊biên不bất 時thời 得đắc 度độ
"Tôi là một người chất phác quê mùa, cư trú ở ven sông phía nam này, và rất yêu mến Phật Pháp. Khi nghe Phật đang thuyết Pháp ở đây, tôi liền đến bờ sông ở phía nam nhưng lúc ấy chẳng có thuyền.

問vấn 彼bỉ 岸ngạn 人nhân
Tôi liền hỏi một người ở ven sông rằng:

水thủy 為vi 深thâm 淺thiển
'Nước sông sâu hay cạn?'

彼bỉ 人nhân 見kiến 語ngứ
Người kia bảo rằng:

水thủy 可khả 齊tề 踝hõa何hà 不bất 涉thiệp 渡độ
'Nước chỉ tới mắt cá chân. Sao không lội qua?'

吾ngô 信tín 其kỳ 言ngôn便tiện 爾nhĩ 來lai 過quá無vô 他tha 異dị 術thuật
Do tôi tin lời nói của người ấy nên liền qua được, chứ không có phép thuật khác lạ gì đâu.'

佛Phật 時thời 讚tán 言ngôn
Bấy giờ Phật khen rằng:

善thiện 哉tai 善thiện 哉tai夫phù 執chấp 信tín 誠thành 諦đế可khả 度độ 生sanh 死tử 之chi 淵uyên數sổ 里lý 之chi 江giang何hà 足túc 為vi 奇kỳ
"Lành thay, lành thay! Những ai có lòng tin sâu thì mới có thể vượt qua bể sâu của sanh tử. Huống nữa là chỉ lướt qua vài dặm của con sông kia, thì có gì kỳ lạ đâu?"

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

信tín 能năng 渡độ 淵uyên
攝nhiếp 為vi 船thuyền 師sư
精tinh 進tấn 除trừ 苦khổ
慧tuệ 到đáo 彼bỉ 岸ngạn

"Vững tin vượt bể sâu
Nhiếp ý làm thuyền trưởng
Tinh tấn trừ khổ ách
Trí tuệ qua bờ kia

士sĩ 有hữu 信tín 行hành
為vi 聖thánh 所sở 譽dự
樂nhạo 無vô 為vi 者giả
一nhất 切thiết 縛phược 解giải

Ai tín niệm phụng hành
Thánh hiền sẽ ngợi khen
Ai vui thích vô vi
Cởi bỏ mọi buộc ràng

信tín 乃nãi 得đắc 道Đạo
法Pháp 致trí 滅diệt 度độ
從tùng 聞văn 得đắc 智trí
所sở 到đáo 有hữu 明minh

Tin sâu mới đắc Đạo
Như Pháp được diệt độ
Từ đó trí tuệ thành
Nơi đến quang minh chiếu

信tín 之chi 與dữ 戒giới
慧tuệ 意ý 能năng 行hành
健kiện 夫phu 度độ 恚khuể
從tùng 是thị 脫thoát 淵uyên

Tín tâm và giới Pháp
Tuệ ý khéo tu hành
Trượng phu đoạn phiền não
Nhân đó thoát luân hồi"

於ư 是thị 村thôn 人nhân聞văn 佛Phật 所sở 說thuyết見kiến 信tín 之chi 證chứng心tâm 開khai 信tín 堅kiên皆giai 受thọ 五Ngũ 戒Giới為vi 清Thanh 信Tín 士Sĩ明minh 信tín 日nhật 修tu法Pháp 教giáo 普phổ 聞văn
Do tận mắt chứng kiến và nghe lời Phật nói, tâm của những người trong thôn được khai mở và khởi lòng tin kiên cố. Họ đều xin thọ trì Năm Giới và trở thành các Thanh Tín Sĩ. Với tín tâm của họ ngày càng vững chắc, giáo Pháp lan xa khắp nơi.




昔tích 佛Phật 在tại 世thế時thời 有hữu 大đại 長trưởng 者giả名danh 修Tu 陀Đà 羅La財tài 富phú 無vô 數số信tín 向hướng 道Đạo 德đức自tự 誓thệ 常thường 以dĩ臘lạp 月nguyệt 八bát 日nhật請thỉnh 佛Phật 及cập 僧Tăng終chung 身thân 子tử 孫tôn奉phụng 行hành 不bất 廢phế
Thuở xưa khi Phật còn tại thế, bấy giờ có một trưởng giả giàu sang vô cùng, tên là Thiện Trì. Ông rất tín ngưỡng Phật Đạo. Ông đã tự mình nguyện rằng, vào mùng tám tháng Chạp của mỗi năm, ông sẽ thỉnh Phật cùng chư Tăng đến nhà để cúng dường. Con cháu cũng phụng hành đến suốt đời và sẽ không hủy bỏ.

長trưởng 者giả 亡vong 時thời囑chúc 兒nhi 勿vật 廢phế兒nhi 名danh 比Tỉ 羅La 陀Đà後hậu 日nhật 漸tiệm 貧bần居cư 無vô 所sở 有hữu臘lạp 月nguyệt 已dĩ 至chí無vô 有hữu 供cung 辦biện愁sầu 慼thích 不bất 樂lạc
Khi sắp mạng chung, ông trưởng giả dặn dò đứa con nhớ đừng hủy bỏ tục lệ này. Con của ông tên là Virādha [vi ra đa]. Về sau gia cảnh ngày càng nghèo và cuộc sống thiếu hụt. Tháng Chạp đã đến nhưng không có đủ phương tiện để cúng dường, thế nên chàng sầu lo chẳng vui.

佛Phật 遣khiển 目Mục 連Liên往vãng 問vấn 比Tỉ 羅La 陀Đà
Bấy giờ Phật sai Tôn giả Đại Thải Thúc Thị đến hỏi trưởng giả tử rằng:

汝nhữ 父phụ 直trực 月nguyệt 欲dục 至chí當đương 設thiết 何hà 計kế
"Ngày làm công đức của cha con vào tháng Chạp sắp đến. Con có dự định thiết lễ cúng dường gì không?"

比Tỉ 羅La 陀Đà 答đáp 言ngôn
Trưởng giả tử thưa rằng:

亡vong 父phụ 教giáo 令lệnh不bất 敢cảm 違vi 之chi唯duy 願nguyện 世Thế 尊Tôn勿vật 見kiến 忽hốt 棄khí 也dã八bát 日nhật 中trung 時thời廻hồi 光quang 臨lâm 眄miện
"Thưa Tôn Giả! Lời cha dặn dò trước khi mất, con đâu dám làm trái. Kính mong Thế Tôn chớ thấy gia cảnh hiện giờ của con mà không đến. Khoảng giữa ngọ của ngày mùng tám, cúi xin Thế Tôn hãy quang lâm đến nhà con."

目Mục 連Liên 還hoàn 白bạch 如như 是thị比Tỉ 羅La 陀Đà 即tức 將tương 妻thê 子tử至chí 外ngoại 家gia 質chất取thủ 百bách 兩lượng 金kim還hoàn 舍xá 供cung 辦biện一nhất 切thiết 具cụ 足túc
Tôn giả Đại Thải Thúc Thị trở về và thưa lại với Phật như thế. Sau đó, trưởng giả tử liền dẫn vợ con đến nhà của cha mẹ vợ và mượn 100 lượng vàng, rồi trở về nhà và chuẩn bị đầy đủ ẩm thực để cúng dường.

佛Phật 與dữ 千thiên 二nhị 百bách 五ngũ 十thập 眾chúng 僧Tăng往vãng 詣nghệ 其kỳ 舍xá坐tọa 畢tất 行hành 水thủy 下hạ 食thực澡táo 竟cánh 還hoàn 於ư 精tinh 舍xá比Tỉ 羅La 陀Đà 歡hoan 喜hỷ不bất 敢cảm 悔hối 恨hận
Bấy giờ Đức Phật cùng với 1.250 vị Bhikṣu đi đến nhà của trưởng giả tử, rồi ngồi xuống, rửa tay, và thọ trai. Khi đã thọ trai xong, Đức Phật cùng các vị Bhikṣu rửa tay và trở về tinh xá. Khi ấy, trưởng giả tử vô cùng hoan hỷ và chẳng hề cảm thấy hối hận.

其kỳ 日nhật 夜dạ 半bán諸chư 故cố 藏tạng 中trung自tự 然nhiên 寶bảo 物vật悉tất 滿mãn 如như 故cố比Tỉ 羅La 陀Đà 夫phu 婦phụ明minh 旦đán 見kiến 之chi喜hỷ 而nhi 且thả 懼cụ懼cụ 官quan 見kiến 問vấn所sở 從tùng 得đắc 此thử夫phu 妻thê 共cộng 議nghị當đương 往vãng 問vấn 佛Phật尋tầm 到đáo 佛Phật 所sở具cụ 白bạch 如như 此thử
Vào nửa đêm hôm đó, trong các kho tàng tự nhiên có đầy những vật báu như trước kia. Sáng sớm hôm sau, khi vợ chồng của trưởng giả tử thấy vậy, họ vừa mừng vừa sợ. Họ sợ quan liêu tra hỏi, rằng từ đâu mà có những vật này. Lúc đó phu thê bàn bạc và họ quyết định đến hỏi Phật. Sau khi tìm đến chỗ của Phật, trưởng giả tử kể rõ tường tận mọi việc đã xảy ra.

佛Phật 告cáo 比Tỉ 羅La 陀Đà
Phật bảo trưởng giả tử:

安an 意ý 快khoái 用dụng勿vật 有hữu 疑nghi 難nan汝nhữ 之chi 履lý 信tín不bất 違vi 父phụ 教giáo持trì 戒giới 慚tàm 愧quý沒một 命mạng 不bất 二nhị聞văn 施thí 慧tuệ 道Đạo七thất 財tài 滿mãn 具cụ福phước 德đức 所sở 致trí非phi 為vị 災tai 變biến智trí 者giả 能năng 行hành不bất 問vấn 男nam 女nữ所sở 生sanh 之chi 處xứ福phước 應ứng 自tự 然nhiên
"Con hãy an tâm sử dụng và chớ sanh hoài nghi. Đó là bởi con có lòng tin và không làm trái lời cha dạy, lại giữ giới, biết hổ thẹn, và suốt đời không thoái lui. Do có đầy đủ Bảy Pháp Tài--tín, giới, tàm, quý, văn, thí, và tuệ--nên con có được phước đức và không gặp tai ương. Những người trí nào mà có thể tu hành như thế, chẳng kể nam hay nữ, thì phước báo sẽ tự nhiên ứng hiện ở mọi nơi họ sanh ra."

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

信tín 財tài 戒giới 財tài
慚tàm 愧quý 亦diệc 財tài
聞văn 財tài 施thí 財tài
慧tuệ 為vi 七thất 財tài

"Tín tài và giới tài
Tàm tài cộng quý tài
Cùng với văn, thí, tuệ
Gọi là Bảy Pháp Tài

從tùng 信tín 守thủ 戒giới
常thường 淨tịnh 觀quán 法Pháp
慧tuệ 而nhi 履lý 行hành
奉phụng 教giáo 不bất 忘vong

Do tín mà giữ giới
Thanh tịnh thường quán Pháp
Tu tuệ lợi mình người
Phụng kính chẳng lãng quên

生sanh 有hữu 此thử 財tài
不bất 問vấn 男nam 女nữ
終chung 已dĩ 不bất 貧bần
賢hiền 者giả 識thức 真chân

Ai có Bảy Pháp Tài
Chẳng kể nam hay nữ
Mãi mãi không nghèo túng
Bởi họ thấy chân lý"

比Tỉ 羅La 陀Đà 聞văn 佛Phật 所sở 說thuyết益ích 加gia 篤đốc 信tín稽khể 首thủ 佛Phật 足túc歡hoan 喜hỷ 還hoàn 家gia具cụ 宣tuyên 佛Phật 教giáo誨hối 其kỳ 妻thê 子tử遂toại 相tương 承thừa 繼kế皆giai 得đắc 道Đạo 迹tích
Khi nghe Phật dạy, trưởng giả tử càng thêm vững tin, rồi cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật và vui mừng trở về nhà. Bấy giờ trưởng giả tử tuyên lại đầy đủ lời dạy của Phật cho vợ con, và tiếp tục kế thừa truyền thống. Sau đó, họ đều thấy dấu Đạo.

戒Giới 慎Thận 品Phẩm 第đệ 五ngũ
Phẩm 5: Trì Giới


昔tích 波Ba 羅La 奈Nại 國Quốc 有hữu 山sơn去khứ 城thành 四tứ 五ngũ 十thập 里lý有hữu 五ngũ 沙Sa 門Môn處xử 山sơn 學học 道Đạo晨thần 旦đán 出xuất 山sơn人nhân 間gian 乞khất 食thực食thực 訖ngật 還hoàn 山sơn晚vãn 暮mộ 乃nãi 到đáo往vãng 還hoàn 疲bì 極cực不bất 堪kham 坐tọa 禪thiền思tư 惟duy 正chánh 定định歷lịch 年niên 如như 是thị不bất 能năng 得đắc 道Đạo
Thuở xưa có một ngọn núi, cách thành Lộc Dã khoảng 40 đến 55 dặm. Ở trên ngọn núi này có năm vị Đạo Nhân đang cư trú để học Đạo. Khoảng buổi sáng sớm, họ xuống núi và vào thành thị khất thực. Khi ăn xong, họ trở lại trên núi và đi đến chiều mới tới. Do lúc đi và lúc về rất mệt mỏi nên họ chẳng thể ngồi thiền và tư duy chánh định. Trải qua nhiều năm như thế mà họ vẫn không thể đắc Đạo.

佛Phật 愍mẫn 念niệm 之chi勞lao 而nhi 無vô 獲hoạch
Đức Phật thương cảm họ phải chịu khổ nhọc mà kết quả chẳng được gì.

化hóa 作tác 一nhất 道Đạo 人Nhân往vãng 到đáo 其kỳ 所sở問vấn 諸chư 道Đạo 人Nhân
Và thế là, Ngài hóa làm một vị Đạo Nhân, rồi đi đến chỗ của họ và hỏi các Đạo Nhân rằng:

隱ẩn 居cư 修tu 道Đạo得đắc 無vô 勞lao 倦quyện
"Các vị ẩn cư ở đây tu Đạo. Các vị có gặp khổ nhọc gì chăng?"

諸chư 沙Sa 門Môn 言ngôn
Các vị Đạo Nhân đáp rằng:

吾ngô 等đẳng 在tại 此thử去khứ 城thành 既ký 遠viễn四tứ 大đại 之chi 身thân當đương 須tu 飲ẩm 食thực日nhật 日nhật 供cung 給cấp往vãng 還hoàn 疲bì 勞lao經kinh 年niên 歷lịch 歲tuế勤cần 苦khổ 竟cánh 已dĩ晝trú 日nhật 往vãng 返phản暮mộ 輒triếp 疲bì 頓đốn不bất 暇hạ 復phục 得đắc 修tu 道Đạo為vi 當đương 正chánh 爾nhĩ畢tất 命mạng 而nhi 已dĩ
"Chúng tôi sống ở đây và cách thành thị rất xa, nhưng thân thể bốn đại thì cần ăn uống. Mỗi ngày chúng tôi xuống núi khất thực. Lúc đi lúc về rất mệt mỏi, và trải qua nhiều năm chịu cực khổ như thế. Chúng tôi mới mờ sáng đã khởi hành và đến sụp tối mới về, nên rất khổ nhọc. Bởi thế chúng tôi làm gì có thời gian để tu Đạo. Chắc chúng tôi sẽ chịu cảnh như vậy cho đến khi chết mới thôi."

道Đạo 人Nhân 語ngứ 曰viết
Đạo Nhân bảo rằng:

夫phù 為vì 道Đạo 者giả以dĩ 戒giới 為vi 本bổn攝nhiếp 心tâm 為vi 行hành賤tiện 形hình 貴quý 真chân捐quyên 棄khí 軀khu 命mạng食thực 以dĩ 支chi 形hình守thủ 意ý 正chánh 定định內nội 學học 止Chỉ 觀Quán滅diệt 意ý 得đắc 道Đạo養dưỡng 身thân 順thuận 情tình安an 得đắc 免miễn 苦khổ願nguyện 諸chư 道Đạo 人Nhân明minh 日nhật 莫mạc 行hành吾ngô 當đương 供cúng 養dường使sử 諸chư 道Đạo 人Nhân休hưu 息tức 一nhất 日nhật
"Người tu Đạo phải lấy giới làm gốc và nhiếp tâm tu hành. Đừng nên xem trọng cái thân này quá. Dù phải xả bỏ thân mạng này đi nữa thì cũng không thể phá giới. Ăn uống chỉ là để duy trì thân thể. Hãy nên thủ hộ chánh định, tu học Chỉ Quán, và diệt vọng tưởng thì sẽ đắc Đạo. Nếu chỉ nuôi dưỡng thân thể, thuận theo tâm ý, thì làm sao thoát miễn khổ ách? Ngày mai xin các vị Đạo Nhân chớ đi khất thực. Tôi sẽ cúng dường thức ăn để các vị Đạo Nhân có thể nghỉ ngơi một ngày."

時thời 五ngũ 沙Sa 門Môn意ý 大đại 歡hoan 喜hỷ怪quái 未vị 曾tằng 有hữu安an 心tâm 定định 意ý不bất 復phục 憂ưu 行hành明minh 日nhật 日nhật 中trung此thử 化hóa 道Đạo 人Nhân送tống 食thực 而nhi 來lai食thực 訖ngật 安an 和hòa心tâm 意ý 惔đàm 怕phạ
Khi ấy trong lòng của năm vị Đạo Nhân vui mừng không thể tả và kinh ngạc chưa từng có. Tâm ý của họ an định và không còn phải lo việc đi khất thực cho ngày mai. Vào giữa ngọ hôm sau, vị Đạo Nhân do Phật biến hóa đưa thức ăn đến. Sau khi ăn xong, tâm ý của năm vị Đạo Nhân an hòa và điềm tĩnh.

於ư 是thị 化hóa 人nhân為vi 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Bấy giờ vị hóa nhân nói kệ rằng:

比Bỉ 丘Khâu 立lập 戒giới
守thủ 攝nhiếp 諸chư 根căn
食thực 知tri 自tự 節tiết
寤ngụ 意ý 令linh 應ứng

"Bhikṣu lập giới đức
Thủ hộ nhiếp các căn
Ăn uống biết chừng mực
Ngủ thức ý tương ứng

以dĩ 戒giới 降hàng 心tâm
守thủ 意ý 正chánh 定định
內nội 學học 止Chỉ 觀Quán
無vô 忘vong 正chánh 智trí

Dùng giới hàng phục tâm
Thủ hộ chánh định ý
Nhất tâm tu Chỉ Quán
Không quên là chánh trí

明minh 哲triết 守thủ 戒giới
內nội 思tư 正chánh 智trí
行hành 道Đạo 如như 應ứng
自tự 淨tịnh 除trừ 苦khổ

Hiền minh thủ hộ giới
Chánh trí tâm tư duy
Hành Đạo luôn tương ứng
Khổ ách tự trừ sạch"

化hóa 道Đạo 人Nhân 說thuyết 此thử 偈kệ 已dĩ顯hiển 現hiện 佛Phật 身thân光quang 相tướng 之chi 容dung於ư 是thị 五ngũ 沙Sa 門Môn精tinh 神thần 震chấn 疊điệp咸hàm 思tư 惟duy 戒giới即tức 得đắc 阿A 羅La 漢Hán 道Đạo
Khi nói những bài kệ này xong, vị Đạo Nhân do Phật biến hóa hiển hiện thân Phật với quang tướng lồng lộng. Lúc đó, tinh thần của năm vị Đạo Nhân phấn chấn không ngừng. Họ cùng tư duy giới luật và liền đắc Đạo Ứng Chân.

惟Duy 念Niệm 品Phẩm 第đệ 六lục
Phẩm 6: Tư Duy


昔tích 佛Phật 在tại 世thế 時thời弗Phất 加Gia 沙Sa 王Vương與dữ 瓶Bình 沙Sa 王Vương 親thân 友hữu弗Phất 加Gia 沙Sa 王Vương未vị 知tri 佛Phật 道Đạo作tác 七thất 寶bảo 華hoa以dĩ 遺di 瓶Bình 沙Sa瓶Bình 沙Sa 王Vương 得đắc 之chi轉chuyển 奉phụng 上thượng 佛Phật
Thuở xưa khi Phật còn tại thế, vua Pukkaśati [búc ca sa ti] và vua Ảnh Thắng là thân hữu với nhau. Bấy giờ vua Pukkaśati vẫn chưa biết Phật Pháp. Ngài đã làm một đóa hoa bảy báu và tặng cho vua Ảnh Thắng. Khi nhận được, vua Ảnh Thắng chuyển dâng lên cho Đức Phật.

白bạch 佛Phật 言ngôn
Rồi ngài bạch Phật rằng:

弗Phất 加Gia 沙Sa 王Vương與dữ 我ngã 為vi 友hữu遺di 我ngã 此thử 華hoa今kim 已dĩ 上thượng 佛Phật願nguyện 令linh 彼bỉ 王vương心tâm 開khai 意ý 解giải見kiến 佛Phật 聞văn 法Pháp奉phụng 敬kính 聖thánh 眾chúng當đương 以dĩ 何hà 物vật以dĩ 報báo 所sở 遺di
"[Bạch Thế Tôn!] Vua Pukkaśati và con là đôi bạn thân. Ông ấy đã tặng con đóa hoa này. Con nay dâng lên cho Phật, mong rằng vị vua kia sẽ được tâm khai ý giải, thấy Phật nghe Pháp, và cung kính thánh chúng. Tuy nhiên, con không biết phải tặng vật gì để đáp lễ?"

佛Phật 告cáo 瓶Bình 沙Sa
Phật bảo vua Ảnh Thắng:

寫tả 十Thập 二Nhị 因Nhân 緣Duyên 經Kinh送tống 持trì 與dữ 之chi彼bỉ 王vương 得đắc 經Kinh心tâm 必tất 信tín 解giải
"Hãy biên chép Kinh 12 Duyên Khởi và tặng cho ông ấy. Khi nhận được Kinh, tâm của vị vua kia nhất định sẽ tín thọ và liễu giải."

即tức 寫tả 經Kinh 卷quyển別biệt 書thư 文văn 曰viết
Vua Ảnh Thắng liền biên chép quyển Kinh đó và trong thư riêng, ngài ghi rằng:

卿khanh 以dĩ 寶bảo 華hoa 見kiến 遺di今kim 以dĩ 法Pháp 華hoa 相tương 上thượng詳tường 思tư 其kỳ 義nghĩa果quả 報báo 深thâm 美mỹ到đáo 便tiện 誦tụng 習tập以dĩ 同đồng 道Đạo 味vị
"Bạn đã dùng hoa báu tặng mình. Nay mình dùng hoa Pháp để tặng lại. Xin bạn hãy tư duy nghĩa lý của Kinh thì mới có thể liễu giải quả báo và sự thâm áo mỹ diệu của Phật Pháp. Khi có cơ hội thì hãy đọc tụng. Chúc bạn sớm nếm được vị của Đạo."

弗Phất 加Gia 沙Sa 王Vương得đắc 經Kinh 讀độc 之chi尋tầm 省tỉnh 反phản 覆phúc亘tuyên 然nhiên 信tín 解giải
Khi nhận được Kinh, vua Pukkaśati cầm đọc, rồi phản tỉnh tư duy, và tự nhiên tín giải.

喟vị 然nhiên 嘆thán 曰viết
Rồi ngài bùi ngùi than rằng:

道Đạo 化hóa 真chân 妙diệu精tinh 義nghĩa 安an 神thần國quốc 榮vinh 五ngũ 欲dục憂ưu 惱não 之chi 元nguyên累lũy 劫kiếp 習tập 迷mê始thỉ 今kim 乃nãi 寤ngụ顧cố 視thị 流lưu 俗tục無vô 可khả 貪tham 樂lạc
"Phật Pháp thật vi diệu! Nghĩa lý nhiệm mầu của nó có thể an định tinh thần. Quốc gia, vinh hoa, và năm dục là nguồn gốc của ưu sầu khổ não. Ta đã trải qua nhiều kiếp trầm mê, tới hôm nay mới tỉnh ngộ. Nhìn kỹ lại dòng đời thế tục, thì ta làm sao còn có thể thích hưởng lạc."

即tức 召triệu 群quần 臣thần國quốc 付phó 太thái 子tử便tiện 自tự 剃thế 頭đầu行hành 作tác 沙Sa 門Môn法Pháp 服phục 持trì 鉢bát詣nghệ 羅La 閱Duyệt 祇Kỳ 城thành 外ngoại在tại 陶đào 家gia 窰diêu 中trung 寄ký 宿túc明minh 日nhật 當đương 入nhập 城thành 分phân 衛vệ食thực 訖ngật 當đương 至chí 佛Phật 所sở奉phụng 受thọ 經Kinh 戒giới
Sau đó, ngài lập tức triệu tập quần thần và ủy phó quốc gia cho thái tử, rồi tự xuống tóc và trở thành Đạo Nhân. Với Pháp y khoác trên thân và tay cầm bát, ngài hướng đến thành Vương Xá. Trên đường đi, ngài nghỉ qua đêm ở nhà của một người thợ gốm. Ngài dự định sáng mai sẽ vào thành khất thực, rồi khi đã ăn xong, ngài sẽ đến chỗ của Phật để phụng trì Kinh Pháp và xin thọ giới.

佛Phật 以dĩ 神thần 通thông知tri 弗Phất 加Gia 沙Sa明minh 日nhật 食thực 時thời其kỳ 命mạng 將tương 終chung故cố 從tùng 遠viễn 來lai不bất 得đắc 見kiến 佛Phật又hựu 不bất 聞văn 經Kinh甚thậm 可khả 憐lân 愍mẫn於ư 是thị 世Thế 尊Tôn化hóa 作tác 沙Sa 門Môn往vãng 至chí 陶đào 家gia欲dục 求cầu 寄ký 宿túc
Với sức thần thông, Đức Phật biết thọ mạng của vua Pukkaśati sẽ chấm dứt lúc đang khất thực vào ngày mai. Đức Phật thương xót ngài đã lặn lội từ phương xa đến đây mà không thấy được Phật, và lại chẳng nghe được Kinh. Bởi vậy Thế Tôn hóa làm một vị Đạo Nhân, rồi đi đến nhà của người thợ gốm và xin tá túc qua đêm.

陶đào 家gia 語ngứ 曰viết
Người thợ gốm bảo rằng:

向hướng 有hữu 一nhất 沙Sa 門Môn在tại 彼bỉ 窰diêu 中trung可khả 往vãng 共cộng 止chỉ 宿túc 也dã
"Mới vừa có một vị Đạo Nhân đang nghỉ ở trong lò nung. Nếu ngài không ngại thì có thể cùng nghỉ qua đêm ở trong đó."

把bả 草thảo 入nhập 窰diêu坐tọa 於ư 一nhất 面diện問vấn 弗Phất 加Gia 沙Sa
Và thế là, hóa nhân cầm bó cỏ, rồi vào trong lò nung, ngồi ở một góc và hỏi vua Pukkaśati rằng:

從tùng 何hà 所sở 來lai師sư 為vi 是thị 誰thùy以dĩ 何hà 因nhân 緣duyên行hành 作tác 沙Sa 門Môn為vi 見kiến 佛Phật 未vị
"Ngài từ đâu đến? Sư phụ của ngài là ai? Vì sao ngài trở thành Đạo Nhân? Ngài đã thấy Đức Phật chưa?"

弗Phất 加Gia 沙Sa 言ngôn
Vua Pukkaśati đáp rằng:

吾ngô 未vị 見kiến 佛Phật聞văn 十Thập 二Nhị 因Nhân 緣Duyên便tiện 作tác 沙Sa 門Môn明minh 日nhật 入nhập 城thành乃nãi 分phân 衛vệ 已dĩ當đương 往vãng 見kiến 佛Phật 耳nhĩ
"Tôi vẫn chưa thấy Đức Phật. Do nghe được Kinh 12 Duyên Khởi nên xuất gia làm Đạo Nhân. Ngày mai tôi định sẽ vào thành và khi đã khất thực xong, tôi sẽ đến diện kiến Đức Phật."

化hóa 沙Sa 門Môn 言ngôn
Hóa Đạo Nhân bảo rằng:

人nhân 命mạng 危nguy 脆thúy朝triêu 夕tịch 有hữu 變biến無vô 常thường 宿túc 對đối卒thốt 至chí 無vô 期kỳ但đãn 當đương 觀quán 身thân四tứ 大đại 所sở 由do合hợp 成thành 散tán 滅diệt各các 還hoàn 其kỳ 本bổn思tư 惟duy 覺giác 意ý空không 淨tịnh 無vô 想tưởng專chuyên 念niệm 三Tam 尊Tôn布bố 施thí 戒giới 德đức能năng 知tri 無vô 常thường見kiến 佛Phật 無vô 異dị方phương 念niệm 明minh 日nhật種chúng 無vô 益ích 想tưởng
"Mạng sống mỏng manh; buổi sáng còn đó, biết tối còn không. Vô thường đổi dời; hốt nhiên chợt đến. Hãy luôn quán thân này là do bốn đại tạo thành. Có tụ hợp ắt có ly tan; mỗi yếu tố rồi sẽ trở về gốc của nó. Hãy tư duy giác ý, vô nguyện, không, vô tướng. Hãy nhớ niệm Tam Bảo, làm bố thí, giữ giới, và tu đức hạnh. Nếu có thể biết vô thường thì sẽ đồng như thấy Phật không khác. Còn như cứ nghĩ tưởng đến việc của ngày mai thì chỉ vô ích."

時thời 化hóa 沙Sa 門Môn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ hóa Đạo Nhân liền nói kệ rằng:

夫phù 人nhân 得đắc 善thiện 利lợi
乃nãi 來lai 自tự 歸quy 佛Phật
是thị 故cố 當đương 晝trú 夜dạ
常thường 念niệm 佛Phật 法Pháp 眾Chúng

"Nếu ai được lợi lành
Tất đến Quy Y Phật
Cho nên ngày lẫn đêm
Thường niệm Phật Pháp Tăng

己kỷ 知tri 自tự 覺giác 意ý
是thị 為vi 佛Phật 弟đệ 子tử
常thường 當đương 晝trú 夜dạ 念niệm
佛Phật 與dữ 法Pháp 及cập 眾Chúng

Tự ngộ tâm ý mình
Đó là đệ tử Phật
Ngày đêm hãy luôn niệm
Công đức Phật Pháp Tăng

念niệm 身thân 念niệm 非phi 常thường
念niệm 戒giới 布bố 施thí 德đức
空không 不bất 願nguyện 無vô 想tưởng
晝trú 夜dạ 當đương 念niệm 是thị

Niệm thân niệm vô thường
Niệm giới bố thí đức
Vô nguyện, không, vô tướng
Ngày đêm hãy nhớ niệm"

時thời 化hóa 沙Sa 門Môn在tại 於ư 窰diêu 中trung為vì 弗Phất 加Gia 沙Sa說thuyết 非phi 常thường 之chi 要yếu弗Phất 加Gia 沙Sa 王Vương思tư 惟duy 意ý 定định即tức 得đắc 阿A 那Na 含Hàm 道Đạo佛Phật 知tri 已dĩ 解giải為vi 現hiện 佛Phật 身thân光quang 明minh 相tướng 好hảo弗Phất 加Gia 沙Sa 王Vương驚kinh 喜hỷ 踊dũng 躍dược稽khể 首thủ 作tác 禮lễ
Lúc bấy giờ hóa Đạo Nhân ở trong lò nung đã thuyết giảng Pháp yếu về vô thường cho vua Pukkaśati. Khi ấy, vua Pukkaśati tư duy định ý và liền đắc Quả Bất Hoàn. Khi biết vua Pukkaśati đã liễu giải, Đức Phật hiện ra thân Phật với quang minh tướng hảo. Bấy giờ vua Pukkaśati vừa kinh sợ và vừa vui mừng hớn hở. Sau đó ngài cúi đầu đảnh lễ Phật.

佛Phật 重trùng 告cáo 之chi 曰viết
Đức Phật lại dạy rằng:

罪tội 對đối 無vô 常thường畢tất 故cố 莫mạc 恐khủng
"Nghiệp tội cũng là vô thường. Cho nên ông chớ sợ hãi."

弗Phất 加Gia 沙Sa 王Vương 言ngôn
Vua Pukkaśati thưa rằng:

敬kính 奉phụng 尊Tôn 教giáo
"Dạ vâng! Con xin phụng trì lời dạy của Thế Tôn."

忽hốt 然nhiên 別biệt 去khứ明minh 日nhật 食thực 時thời弗Phất 加Gia 沙Sa 王Vương入nhập 城thành 分phân 衛vệ於ư 城thành 門môn 中trung逢phùng 新tân 產sản 牸tự牛ngưu 護hộ 犢độc 觝để殺sát 弗Phất 加Gia 沙Sa 王Vương潰hội 腹phúc 命mạng 終chung即tức 生sanh 阿A 那Na 含Hàm 天thiên佛Phật 遣khiển 諸chư 弟đệ 子tử耶da 旬tuần 起khởi 塔tháp
Sau đó Đức Phật bỗng hốt nhiên rời khỏi. Khi đến giờ ăn của ngày hôm sau, vua Pukkaśati vào thành khất thực. Lúc đi vào cổng thành, có một con trâu cái vừa mới sanh, vì bảo hộ con nghé, nó đã húc vua Pukkaśati. Do bị vỡ bụng, vua Pukkaśati mạng chung và liền sanh lên trời. Bấy giờ Phật sai các đệ tử mang thân thể của ngài đi hỏa táng và xây tháp.

佛Phật 語ngứ 諸chư 弟đệ 子tử
Phật bảo các đệ tử:

罪tội 對đối 之chi 根căn不bất 可khả 不bất 慎thận
"Nguồn gốc của nghiệp tội, chẳng thể không cẩn thận!"

慈Từ 仁Nhân 品Phẩm 第đệ 七thất
Phẩm 7: Từ Bi


昔tích 佛Phật 在tại 羅La 閱Duyệt 祇Kỳ去khứ 國quốc 五ngũ 百bách 里lý 有hữu 山sơn山sơn 中trung 有hữu 一nhất 家gia有hữu 百bách 二nhị 十thập 二nhị 人nhân生sanh 長trưởng 山sơn 藪tẩu殺sát 獵liệp 為vi 業nghiệp衣y 皮bì 食thực 肉nhục初sơ 不bất 田điền 作tác奉phụng 事sự 鬼quỷ 神thần不bất 識thức 三Tam 尊Tôn
Thuở xưa có một ngọn núi, cách thành Vương Xá khoảng 500 dặm. Ở trên ngọn núi này có một đại gia đình, gồm có 122 người. Họ sanh ra và lớn lên ở vùng rừng núi, dùng việc săn bắn giết hại để mưu sinh, lấy da thú làm quần áo, ăn thịt thú vật, và chưa từng làm ruộng. Họ phụng sự quỷ thần và chẳng biết Tam Bảo.

佛Phật 以dĩ 聖thánh 智trí明minh 其kỳ 應ưng 度độ往vãng 詣nghệ 其kỳ 家gia坐tọa 一nhất 樹thụ 下hạ男nam 子tử 行hành 獵liệp唯duy 有hữu 婦phụ 女nữ 在tại見kiến 佛Phật 光quang 相tướng明minh 照chiếu 天thiên 地địa山sơn 中trung 木mộc 石thạch皆giai 變biến 金kim 色sắc大đại 小tiểu 驚kinh 喜hỷ知tri 佛Phật 神thần 人nhân皆giai 往vãng 禮lễ 拜bái供cúng 施thí 坐tọa 席tịch佛Phật 為vì 諸chư 母mẫu 人nhân說thuyết 殺sát 生sanh 之chi 罪tội行hành 慈từ 之chi 福phước恩ân 愛ái 一nhất 時thời會hội 有hữu 離ly 別biệt
Bấy giờ Phật dùng thánh trí quán sát và biết đáng được hóa độ, nên Ngài đi đến chỗ của họ, rồi ngồi dưới một gốc cây. Khi ấy những nam nhân đều đi săn và chỉ có phụ nữ ở lại. Khi thấy tướng hảo quang minh của Phật chiếu sáng khắp đất trời, cây cối và sỏi đá ở trong núi đều biến thành màu vàng, thì kẻ lớn người nhỏ vừa mừng vừa sợ. Họ cho rằng Đức Phật là một vị thần, nên kéo đến lễ bái và trải chiếu thỉnh Phật ngồi. Lúc ấy Đức Phật thuyết giảng nghiệp tội của sát sanh và phước báo của lòng từ cho những bà mẹ. Ngài lại giảng về sự ái ân chỉ có nhất thời và rồi cũng phải biệt ly.

諸chư 母mẫu 人nhân聞văn 經Kinh 歡hoan 喜hỷ前tiền 白bạch 佛Phật 言ngôn
Khi nghe Kinh, những bà mẹ vui mừng và liền ở trước Phật thưa rằng:

山sơn 民dân 貪tham 害hại以dĩ 肉nhục 為vi 食thực欲dục 設thiết 微vi 供cung願nguyện 當đương 納nạp 受thọ
[Thưa đại thánh!] Chúng con sống ở trên núi và ăn thịt thú rừng. Bây giờ chúng con muốn dọn thức ăn để cúng dường Ngài. Xin Ngài hãy nhận cho."

佛Phật 告cáo 諸chư 母mẫu 人nhân
Phật bảo những bà mẹ rằng:

諸chư 佛Phật 之chi 法Pháp不bất 以dĩ 肉nhục 食thực吾ngô 已dĩ 食thực 來lai不bất 須tu 復phục 辦biện
"Pháp của chư Phật không cho phép ăn thịt. Ta đã ăn trước khi đến đây. Các người không cần phải dọn thức ăn nữa."

因nhân 告cáo 之chi 曰viết
Nhân ấy Đức Phật dạy rằng:

夫phù 人nhân 生sanh 世thế所sở 食thực 無vô 數số何hà 以dĩ 不bất 作tác有hữu 益ích 之chi 食thực而nhi 殘tàn 害hại 群quần 生sanh以dĩ 自tự 濟tế 活hoạt死tử 墮đọa 惡ác 道đạo損tổn 而nhi 無vô 益ích人nhân 食thực 五ngũ 穀cốc當đương 愍mẫn 眾chúng 生sanh蠕nhuyễn 動động 之chi 類loại莫mạc 不bất 貪tham 生sanh殺sát 彼bỉ 活hoạt 已dĩ殃ương 罪tội 不bất 朽hủ慈từ 仁nhân 不bất 殺sát世thế 世thế 無vô 患hoạn
"Con người sống ở đời có thể ăn rất nhiều thứ. Tại sao không ăn những thực phẩm có lợi ích, mà lại giết hại chúng sanh để nuôi sống bản thân, rồi khi chết phải đọa đường ác? Việc đó chỉ tổn hại mà chẳng có lợi ích. Các người hãy ăn ngũ cốc, thương xót chúng sanh và cho đến các loài sâu bọ. Đừng vì ham sống mà đi giết những loài khác để nuôi dưỡng chính mình, bởi tội chướng sẽ không tiêu tan. Nếu ai nhân từ và không giết hại, đời đời họ sẽ không gặp hoạn nạn."

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

為vi 仁nhân 不bất 殺sát
常thường 能năng 攝nhiếp 身thân
是thị 處xứ 不bất 死tử
所sở 適thích 無vô 患hoạn

"Lòng từ không giết hại
Thân nghiệp luôn khéo nhiếp
Đó là chốn bất tử
Nơi đến chẳng hoạn nạn

不bất 殺sát 為vi 仁nhân
慎thận 言ngôn 守thủ 心tâm
是thị 處xứ 不bất 死tử
所sở 適thích 無vô 患hoạn

Lòng từ không giết hại
Gìn giữ ngữ ý nghiệp
Đó là chốn bất tử
Nơi đến chẳng hoạn nạn

垂thùy 拱củng 無vô 為vi
不bất 害hại 眾chúng 生sanh
無vô 所sở 嬈nhiễu 惱não
是thị 應ưng 梵Phạm 天Thiên

An tĩnh chắp tay kính
Chẳng hại các chúng sanh
Chẳng gây phiền não sầu
Đó là tu tịnh hạnh

常thường 以dĩ 慈từ 哀ai
淨tịnh 如như 佛Phật 教giáo
知tri 足túc 知tri 止chỉ
是thị 度độ 生sanh 死tử

Từ mẫn luôn thương xót
Thanh tịnh như Phật dạy
Biết đủ biết dừng lại
Tất vượt thoát sanh tử"

佛Phật 說thuyết 偈kệ 已dĩ男nam 子tử 獵liệp 還hoàn諸chư 婦phụ 聽thính 經Kinh不bất 復phục 行hành 迎nghênh其kỳ 夫phu 驚kinh 疑nghi怪quái 不bất 如như 常thường棄khí 肉nhục 來lai 歸quy謂vị 有hữu 變biến 故cố至chí 見kiến 諸chư 婦phụ皆giai 坐tọa 佛Phật 前tiền叉xoa 手thủ 聽thính 經Kinh瞋sân 恚khuể 聲thanh 張trương欲dục 圖đồ 毀hủy 佛Phật
Vừa lúc Phật nói kệ xong thì những người chồng đi săn cũng trở về. Bởi vợ của họ đang nghe Kinh nên không ra nghênh đón. Những người chồng kinh ngạc về điều quái lạ bất thường này và nghĩ rằng có chuyện gì đã xảy ra. Họ quăng bỏ thịt xuống và vội trở về. Khi đến nơi, họ thấy các cô vợ đều ngồi ở trước Phật và chắp tay nghe Kinh. Họ giận dữ hét lớn và toan muốn giết Phật.

諸chư 婦phụ 諫gián 曰viết
Các cô vợ ngăn cản và nói rằng:

此thử 是thị 神thần 人nhân勿vật 興hưng 惡ác 意ý 也dã
"Đây là một vị thần, chớ khởi lòng ác với Ngài!"

即tức 各các 悔hối 過quá為vì 佛Phật 作tác 禮lễ佛Phật 重trùng 為vi 說thuyết不bất 殺sát 之chi 福phước殘tàn 害hại 之chi 罪tội夫phu 主chủ 意ý 解giải
Và thế là, mỗi người họ liền sám hối lỗi lầm và đảnh lễ Phật. Đức Phật thuyết giảng lại về nghiệp tội của sát sanh và phước báo của lòng từ. Khi ấy tâm ý của những người chồng tỏ ngộ.

長trường 跪quỵ 白bạch 佛Phật
Họ quỳ hai gối và bạch Phật rằng:

吾ngô 等đẳng 生sanh 長trưởng 深thâm 山sơn以dĩ 殺sát 獵liệp 自tự 居cư罪tội 過quá 累lũy 積tích當đương 行hành 何hà 法pháp得đắc 免miễn 重trọng 殃ương
"[Bạch Thế Tôn!] Chúng con sanh ra và lớn lên trong rừng sâu và dùng việc săn bắn giết hại để mưu sinh nên nghiệp tội tích lũy. Chúng con phải làm sao để thoát khỏi tai ương?"

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

履lý 仁nhân 行hành 慈từ
博bác 愛ái 濟tế 眾chúng
有hữu 十thập 一nhất 譽dự
福phước 常thường 隨tùy 身thân

"Bước theo hạnh từ bi
Bác ái cứu chúng sanh
Có được mười một lợi
Phước đức luôn tùy thân

臥ngọa 安an 覺giác 安an
不bất 見kiến 惡ác 夢mộng
天thiên 護hộ 仁nhân 愛ái
不bất 毒độc 不bất 兵binh
水thủy 火hỏa 不bất 喪táng
所sở 在tại 得đắc 利lợi
死tử 昇thăng 梵Phạm 天Thiên
是thị 為vi 十thập 一nhất

Ngủ yên tỉnh giấc an
Chẳng thấy cơn ác mộng
Trời hộ người kính mến
Thuốc độc chiến tranh không
Chẳng gặp nạn nước lửa
Nơi ở được phước lợi
Chết sanh cõi Phạm Thiên
Đây là mười một lợi"

佛Phật 說thuyết 偈kệ 已dĩ男nam 女nữ 大đại 小tiểu百bách 二nhị 十thập 二nhị 人nhân歡hoan 欣hân 信tín 受thọ皆giai 奉phụng 持trì 五Ngũ 戒Giới
Khi Phật nói kệ xong, nam nữ lớn nhỏ, cả thảy 122 người, vui vẻ tín thọ và đều phụng trì Năm Giới.

佛Phật 語ngứ 瓶Bình 沙Sa 王Vương給cấp 其kỳ 田điền 地địa賜tứ 與dữ 穀cốc 食thực仁nhân 化hóa 廣quảng 普phổ國quốc 界giới 安an 寧ninh
Sau đó, Đức Phật bảo vua Ảnh Thắng hãy ban ruộng đất và lương thực cho họ. Do quốc vương dùng lòng nhân từ để rộng dạy nhân dân, nên kể từ đó, đất nước an bình thịnh vượng.




昔tích 有hữu 大đại 國quốc王vương 名danh 和Hòa 默Mặc處xử 在tại 邊biên 境cảnh未vị 覩đổ 三Tam 尊Tôn聖thánh 妙diệu 之chi 化hóa奉phụng 事sự 梵Phạm 志Chí外ngoại 道đạo 妖yêu 蠱cổ舉cử 國quốc 奉phụng 邪tà殺sát 生sanh 祭tế 祀tự以dĩ 此thử 為vi 常thường
Thuở xưa có một nước lớn ở tại vùng biên giới. Vua của nước này tên là Hòa Mặc. Bởi chưa từng thấy Tam Bảo cùng với sự giáo hóa vi diệu của thánh nhân, vị quốc vương này phụng sự Phạm Chí và yêu tà của ngoại đạo. Toàn dân trong nước đều theo tà pháp, sát sanh cúng tế và cho đó là lẽ thường.

時thời 王vương 母mẫu 病bệnh痿nuy 頓đốn 著trước 床sàng使sử 諸chư 醫y 師sư不bất 蒙mông 湯thang 藥dược遣khiển 諸chư 毉y 女nữ所sở 在tại 請thỉnh 求cầu經kinh 年niên 歷lịch 歲tuế未vị 得đắc 除trừ 差sái
Bấy giờ mẹ của nhà vua lâm bệnh và nằm liệt trên giường. Tuy nhà vua đã sai ngự y đến chữa trị nhưng thuốc thang đều vô hiệu. Nhà vua lại sai người đến các bà đồng cốt để thỉnh cầu. Trải qua nhiều năm nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm.

更cánh 召triệu 國quốc 內nội諸chư 婆Bà 羅La 門Môn得đắc 二nhị 百bách 人nhân請thỉnh 入nhập 令lệnh 坐tọa供cung 設thiết 飲ẩm 食thực
Sau đó, nhà vua lại triệu tập 200 Phạm Chí trong nước. Ngài mời họ vào cung, thỉnh ngồi, rồi dọn ẩm thực để cúng dường.

而nhi 告cáo 之chi 曰viết
Sau đó nhà vua nói với họ rằng:

吾ngô 大đại 夫phu 人nhân病bệnh 困khốn 經kinh 久cửu不bất 知tri 何hà 故cố乃nãi 使sử 如như 此thử卿khanh 等đẳng 多đa 智trí明minh 識thức 相tướng 法pháp天thiên 地địa 星tinh 宿tú有hữu 何hà 不bất 可khả具cụ 見kiến 告cáo 示thị
"Mẹ của trẫm đã bệnh nặng rất lâu, song vẫn không biết vì sao mà chẳng lành. Các khanh đây đều là những bậc tài trí, thông hiểu tướng số, và tinh tú trong trời đất. Chẳng lẽ các khanh lại không thể nói rõ nguyên nhân bệnh tình cho trẫm biết hay sao?

諸chư 婆Bà 羅La 門Môn 言ngôn
Các Phạm Chí tâu rằng:

星tinh 宿tú 倒đảo 錯thác陰âm 陽dương 不bất 調điều故cố 使sử 爾nhĩ 耳nhĩ
"Tâu đại vương! Đó là bởi tinh tú đảo lộn, âm dương bất điều. Cho nên mới khiến cho thái hậu bệnh nặng như thế."

王vương 曰viết
Nhà vua hỏi rằng:

作tác 何hà 方phương 宜nghi使sử 得đắc 除trừ 愈dũ
"Vậy trẫm phải làm sao mới khiến thái hậu lành bệnh?"

婆Bà 羅La 門Môn 言ngôn
Các Phạm Chí tâu rằng:

當đương 於ư 城thành 外ngoại平bình 治trị 淨tịnh 處xứ郊giao 祠từ 四tứ 山sơn日nhật 月nguyệt 星tinh 宿tú當đương 得đắc 百bách 頭đầu 畜súc 生sanh種chủng 種chủng 各các 異dị 類loại及cập 一nhất 少thiểu 兒nhi殺sát 以dĩ 祠từ 天thiên王vương 自tự 躬cung 身thân將tương 母mẫu 至chí 彼bỉ跪quỵ 拜bái 請thỉnh 命mạng然nhiên 後hậu 乃nãi 差sái
"Tâu đại vương! Tại chỗ đất trống sạch sẽ ở ngoài thành, ngài hãy cử hành lễ tế đàn cho các vị thần nhật nguyệt tinh tú và tứ sơn ngũ nhạc. Trong lễ tế đàn này cần phải có 100 cái đầu của các loài súc vật và phải giết một đứa con nít để tế trời. Đại vương cũng phải tự mình dẫn thái hậu đến nơi đó, hãy quỳ lạy và cầu xin thì sau đó mới lành."

王vương 即tức 供cung 辦biện如như 其kỳ 所sở 言ngôn驅khu 人nhân 象tượng 馬mã牛ngưu 羊dương 百bách 頭đầu隨tùy 道đạo 悲bi 鳴minh震chấn 動động 天thiên 地địa從tùng 東đông 門môn 出xuất當đương 就tựu 祭tế 壇đàn殺sát 以dĩ 祠từ 天thiên
Nhà vua liền nghe theo lời của các Phạm Chí và sai người chuẩn bị. Họ bắt một đứa con nít và lùa các súc vật đến chỗ tế đàn, nào là voi, ngựa, bò, dê. Trên đường đi, cả người lẫn thú kêu la thảm thiết và làm chấn động trời đất. Chúng từ cổng thành phía đông ra khỏi và bị lùa đến chỗ tế đàn, rồi sẽ bị giết để tế trời.

世Thế 尊Tôn 大đại 慈từ普phổ 濟tế 眾chúng 生sanh愍mẫn 是thị 國quốc 王vương頑ngoan 愚ngu 之chi 甚thậm云vân 何hà 興hưng 惡ác殺sát 眾chúng 生sanh 命mạng欲dục 救cứu 一nhất 人nhân
Khi ấy với lòng đại từ, Thế Tôn muốn rộng độ chúng sanh. Ngài cũng vì thương xót vị quốc vương này đã quá ngu si mê muội. Tại sao chỉ vì muốn cứu một người mà khởi lòng ác, rồi đi giết mạng sống của những chúng sanh khác?

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn將tương 從tùng 大đại 眾chúng往vãng 到đáo 其kỳ 國quốc在tại 城thành 東đông 門môn道đạo 路lộ 逢phùng 王vương及cập 婆Bà 羅La 門Môn 輩bối所sở 驅khu 畜súc 生sanh悲bi 鳴minh 而nhi 來lai王vương 遙diêu 見kiến 佛Phật如như 日nhật 初sơ 出xuất如như 月nguyệt 盛thịnh 滿mãn光quang 相tướng 炳bỉnh 然nhiên照chiếu 曜diệu 天thiên 地địa人nhân 民dân 見kiến 者giả莫mạc 不bất 愛ái 敬kính所sở 驅khu 畜súc 生sanh祭tế 餟chuyết 之chi 具cụ皆giai 願nguyện 求cầu 脫thoát
Lúc bấy giờ Thế Tôn dẫn theo đại chúng và đi đến nước kia. Trên đường đến cửa thành phía đông, Đức Phật gặp quốc vương của nước này và các Phạm Chí. Họ đang ra lệnh cho lùa một bầy súc vật với tiếng kêu la thảm thiết từ cổng thành đi ra. Từ nơi xa, nhà vua thấy Đức Phật như mặt trời mọc và như ánh trăng rằm, quang minh tướng hảo chói lòa và chiếu sáng rực rỡ khắp đất trời. Khi nhân dân thấy Phật, không ai là chẳng cung kính. Còn đứa trẻ và các súc vật bị lùa đi cúng tế, chúng đều mong thoát khỏi.

王vương 即tức 前tiền 進tiến下hạ 車xa 卻khước 蓋cái為vì 佛Phật 作tác 禮lễ叉xoa 手thủ 長trường 跪quỵ問vấn 訊tấn 世Thế 尊Tôn佛Phật 命mệnh 令linh 坐tọa問vấn 欲dục 所sở 至chí
Nhà vua liền tiến về phía trước, rồi xuống xe và bảo kẻ hầu cầm lọng lui ra. Sau đó ngài đảnh lễ Phật, hai gối quỳ, chắp tay và thăm hỏi Thế Tôn. Phật bảo nhà vua hãy an tọa, rồi hỏi nhà vua muốn đi đâu.

拱củng 手thủ 答đáp 言ngôn
Lúc đó nhà vua chắp tay và thưa rằng:

國quốc 大đại 夫phu 人nhân得đắc 病bệnh 經kinh 久cửu良lương 醫y 神thần 祇kỳ無vô 不bất 周chu 遍biến今kim 始thỉ 欲dục 行hành解giải 謝tạ 星tinh 宿tú四tứ 山sơn 五ngũ 嶽nhạc為vì 母mẫu 請thỉnh 命mạng冀ký 蒙mông 得đắc 差sái
"[Thưa đại thánh!] Quốc thái phu nhân lâm bệnh đã lâu. Con đã cho mời mọi danh y và cầu xin quỷ thần, song đều chẳng trị lành. Bây giờ con muốn đi cúng tế các vị thần nhật nguyệt tinh tú và tứ sơn ngũ nhạc để ngỏ hầu mẹ sẽ bình phục."

佛Phật 告cáo 大đại 王vương
Phật bảo nhà vua rằng:

善thiện 聽thính 一nhất 言ngôn
"Hãy lắng nghe lời Ta nói.

欲dục 得đắc 穀cốc 食thực當đương 行hành 耕canh 種chúng欲dục 得đắc 大đại 富phú當đương 行hành 布bố 施thí欲dục 得đắc 長trường 命mạng當đương 行hành 大đại 慈từ欲dục 得đắc 智trí 慧tuệ當đương 行hành 學học 問vấn
- Nếu muốn được lúa gạo thì hãy đi trồng trọt.
- Nếu muốn được giàu sang thì hãy làm bố thí.
- Nếu muốn được sống lâu thì hãy tu lòng từ.
- Nếu muốn được trí tuệ thì hãy siêng học tập.

行hành 此thử 四tứ 事sự隨tùy 其kỳ 所sở 種chúng還hoàn 得đắc 其kỳ 果quả夫phù 富phú 貴quý 之chi 家gia不bất 貪tham 貧bần 賤tiện 之chi 食thực諸chư 天thiên 以dĩ 七thất 寶bảo 為vi 宮cung 殿điện衣y 食thực 自tự 然nhiên豈khởi 當đương 捨xả 甘cam 露lộ 之chi 飡xan來lai 食thực 麤thô 穢uế 也dã祠từ 祀tự 婬dâm 亂loạn以dĩ 邪tà 為vi 正chánh殺sát 生sanh 求cầu 生sanh去khứ 生sanh 道Đạo 遠viễn殺sát 害hại 眾chúng 命mạng欲dục 救cứu 一nhất 人nhân安an 得đắc 如như 此thử
Nếu ai thực hành bốn việc này thì sẽ tùy theo điều làm của họ mà được kết quả. Người phú quý thì không ham thức ăn của kẻ bần tiện. Chư thiên có cung điện bảy báu, y phục và thức ăn tự nhiên hiện ra. Há có lý nào họ lại bỏ thức ăn cam lộ cõi trời mà đến dùng thức ăn thô kệch và dơ bẩn của nhân gian hay sao? Những kẻ dâm loạn, hoặc tin theo tà đạo cúng tế, lấy tà cho là chánh, hoặc sát sanh để sinh sống, thì họ cách xa Đạo thăm thẳm. Chỉ vì muốn cứu một mạng người mà đi giết hại biết bao chúng sanh khác, thử hỏi việc đó sẽ mang lại an lạc chăng?"

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

若nhược 人nhân 壽thọ 百bách 歲tuế
勤cần 事sự 天thiên 下hạ 神thần
象tượng 馬mã 用dụng 祭tế 祀tự
不bất 如như 行hành 一nhất 慈từ

"Dù ai trọn suốt đời
Phụng thờ khắp thần linh
Voi ngựa mang tế trời
Chẳng bằng hành từ bi"

佛Phật 說thuyết 偈kệ 時thời即tức 放phóng 光quang 明minh烈liệt 照chiếu 天thiên 地địa三tam 塗đồ 八bát 難nạn莫mạc 不bất 歡hoan 喜hỷ各các 得đắc 其kỳ 所sở國Quốc 王vương 和Hòa 默Mặc聞văn 說thuyết 妙diệu 法Pháp又hựu 覩đổ 光quang 明minh甚thậm 大đại 歡hoan 喜hỷ即tức 得đắc 道Đạo 迹tích病bệnh 母mẫu 聞văn 法Pháp五ngũ 情tình 悅duyệt 豫dự所sở 患hoạn 消tiêu 除trừ二nhị 百bách 梵Phạm 志Chí覩đổ 佛Phật 光quang 相tướng重trùng 聞văn 其kỳ 言ngôn慚tàm 愧quý 悔hối 過quá願nguyện 為vi 弟đệ 子tử佛Phật 盡tận 受thọ 之chi皆giai 作tác 沙Sa 門Môn各các 得đắc 如như 願nguyện
Lúc nói kệ xong, Phật liền phóng quang minh chiếu sáng khắp đất trời. Các chúng sanh ở ba đường ác và chốn tám nạn, không ai là chẳng hoan hỷ. Tùy theo xứ sở của họ mà ai nấy đều được lợi ích. Khi nghe diệu Pháp và lại thấy quang minh, vua Hòa Mặc vui mừng khôn xiết và liền thấy dấu Đạo. Mẹ của nhà vua do nghe được Pháp nên tình thức của năm căn hòa vui và bệnh cũng tiêu trừ. Khi thấy quang minh tướng hảo của Phật và lại một lần nữa nghe được lời dạy của Ngài, 200 Phạm Chí sanh lòng hổ thẹn, sám hối lỗi lầm, và xin làm đệ tử của Phật. Đức Phật liền thu nhận. Họ đều trở thành Đạo Nhân và ai nấy được như sở nguyện.

王vương 及cập 大đại 臣thần請thỉnh 佛Phật 供cúng 養dường一nhất 月nguyệt 乃nãi 去khứ以dĩ 法Pháp 治trị 正chánh國quốc 遂toại 興hưng 隆long
Bấy giờ nhà vua cùng các đại thần thỉnh Phật cúng dường đến trọn một tháng. Kể từ đó, do nhà vua dùng Chánh Pháp trị quốc nên đất nước hưng thịnh thái bình.

言Ngôn 語Ngữ 品Phẩm 第đệ 八bát
Phẩm 8: Lời Nói


昔tích 弗Phất 加Gia 沙Sa 王Vương入nhập 羅La 閱Duyệt 祇Kỳ 城thành 分phân 衛vệ於ư 城thành 門môn 中trung為vị 新tân 產sản 牸tự牛ngưu 所sở 觝để 殺sát牛ngưu 主chủ 怖bố 懅cứ賣mại 牛ngưu 轉chuyển 與dữ 他tha 人nhân其kỳ 人nhân 牽khiên 牛ngưu 欲dục 飲ẩm 之chi牛ngưu 從tùng 後hậu 復phục觝để 殺sát 其kỳ 主chủ其kỳ 主chủ 有hữu 子tử瞋sân 恚khuể 取thủ 牛ngưu 殺sát 之chi於ư 市thị 賣mại 肉nhục有hữu 田điền 舍xá 人nhân買mãi 取thủ 牛ngưu 頭đầu貫quán 擔đảm 持trì 歸quy去khứ 舍xá 里lý 餘dư坐tọa 樹thụ 下hạ 息tức以dĩ 牛ngưu 頭đầu 掛quải 樹thụ 枝chi 上thượng須tu 臾du 繩thằng 斷đoạn牛ngưu 頭đầu 來lai 下hạ正chánh 墮đọa 人nhân 上thượng牛ngưu 角giác 刺thứ 人nhân即tức 時thời 命mạng 終chung
Thuở xưa vua Pukkaśati vào thành Vương Xá khất thực. Lúc đi vào cổng thành, ngài bị một con trâu cái vừa mới sanh húc chết. Do hoảng sợ và xấu hổ, ông chủ trâu bán nó cho người khác. Đương lúc kẻ kia định dắt trâu cho uống nước, nó từ đằng sau húc chết chủ nhân. Đứa con của người chủ kia vì quá tức giận nên lôi trâu đi giết và lấy thịt của nó đến chợ bán. Lúc ấy có một gã nông phu mua được cái đầu trâu và vác trên vai mang về. Khoảng hơn một dặm nữa thì tới nhà, hắn treo cái đầu trâu trên nhánh cây và ngồi ở dưới nghỉ ngơi. Chỉ chốc lát thì dây đứt, đầu trâu rơi xuống và sừng của nó đâm trúng kẻ đó nên hắn lập tức thiệt mạng.

一nhất 日nhật 之chi 中trung凡phàm 殺sát 三tam 人nhân瓶Bình 沙Sa 王Vương 聞văn 之chi怪quái 其kỳ 如như 此thử即tức 與dữ 群quần 臣thần行hành 詣nghệ 佛Phật 所sở到đáo 作tác 禮lễ 畢tất卻khước 坐tọa 王vương 位vị
Chỉ trong một ngày mà con trâu đó đã giết chết ba người. Khi việc ấy truyền đến vua Ảnh Thắng, ngài kinh ngạc và lấy làm lạ. Ngài cùng với quần thần liền đi đến chỗ của Phật. Lúc đến nơi, họ đảnh lễ rồi ngồi xuống.

叉xoa 手thủ 白bạch 佛Phật 言ngôn
Kế đến, nhà vua chắp tay và thưa với Phật rằng:

大đại 可khả 怪quái世Thế 尊Tôn一nhất 頭đầu 牸tự 牛ngưu而nhi 殺sát 三tam 人nhân將tương 有hữu 變biến 故cố願nguyện 聞văn 其kỳ 意ý
"Thật quái lạ, thưa Thế Tôn! Chỉ có một con trâu cái mà đã giết chết tới ba mạng người. Việc này chắc phải có nhân duyên. Con muốn được nghe Phật nói."

佛Phật 告cáo 瓶Bình 沙Sa 王Vương
Phật bảo vua Ảnh Thắng:

罪tội 對đối 有hữu 原nguyên非phi 適thích 今kim 也dã
"Tội báo đều có nguyên nhân. Chẳng phải bây giờ mới xảy ra đâu."

王vương 曰viết
Nhà vua thưa rằng:

願nguyện 聞văn 其kỳ 由do
"Xin Ngài hãy kể rõ nguyên do."

佛Phật 言ngôn
Đức Phật bảo:

往vãng 昔tích 有hữu 賈cổ 客khách 三tam 人nhân到đáo 他tha 國quốc 治trị 生sanh寄ký 住trú 孤cô 獨độc 老lão 母mẫu 舍xá應ưng 雇cố 舍xá 直trực見kiến 老lão 母mẫu 孤cô 獨độc欺khi 不bất 欲dục 與dữ伺tứ 老lão 母mẫu 不bất 在tại默mặc 聲thanh 捨xả 去khứ竟cánh 不bất 與dữ 直trực老lão 母mẫu 來lai 歸quy不bất 見kiến 賈cổ 客khách即tức 問vấn 比tỉ 居cư云vân 皆giai 已dĩ 去khứ老lão 母mẫu 瞋sân 恚khuể尋tầm 後hậu 追truy 逐trục疲bì 頓đốn 乃nãi 及cập責trách 索sách 舍xá 直trực
"Thuở xưa có ba thương gia đi đến nước khác kiếm sống. Họ đã ở trọ nhà của một bà lão cô độc. Lẽ ra phải trả tiền mướn nhà, song thấy bà lão đơn côi nên họ khinh miệt và chẳng muốn đưa tiền. Đợi lúc bà lão không có ở nhà, họ âm thầm bỏ đi và chẳng hề trả một xu nào. Khi về đến nhà, do không thấy các thương gia ở đâu nên bà lão liền hỏi những người xung quanh, và họ đều bảo là đã đi rồi. Bà lão nổi giận và đuổi theo ở phía sau đến gần như kiệt sức mới kịp. Rồi bà hỏi vặn tiền mướn nhà.

三tam 賈cổ 客khách 逆nghịch 罵mạ 詈lị 言ngôn
Trái lại, ba thương gia kia lại mắng chửi rằng:

我ngã 前tiền 已dĩ 相tương 與dữ云vân 何hà 復phục 索sách
"Trước đó chúng tôi đã đưa cho bà rồi mà. Sao giờ còn đòi nữa hả?"

同đồng 聲thanh 共cộng 觝để不bất 肯khẳng 與dữ 直trực老lão 母mẫu 單đơn 弱nhược不bất 能năng 奈nại 何hà
Họ cùng nhau chối cãi và không chịu trả tiền. Bà lão côi cút một mình nên chẳng thể làm gì hơn.

懊áo 惱não 咒chú 誓thệ語ngứ 三tam 賈cổ 客khách
Bởi đau buồn tột độ, bà lão đã nguyền rủa ba thương gia đó rằng:

我ngã 今kim 窮cùng 厄ách何hà 忍nhẫn 欺khi 觝để 於ư 我ngã願nguyện 我ngã 後hậu 世thế所sở 生sanh 之chi 處xứ若nhược 當đương 相tương 值trị要yếu 當đương 殺sát 汝nhữ正chánh 使sử 得đắc 道Đạo終chung 不bất 相tương 置trí 也dã殺sát 汝nhữ 乃nãi 休hưu不bất 爾nhĩ 不bất 止chỉ
"Lão nay đã nghèo xơ xác, vậy mà bọn ngươi còn nhẫn tâm lừa gạt. Ở mọi nơi sanh ra vào đời sau, nếu để ta bắt gặp, ta thề sẽ giết chết bọn ngươi. Cho dù đắc Đạo đi nữa thì ta cũng chẳng bỏ qua. Ta thề giết chết bọn ngươi mới thôi--mãi mãi không bao giờ tha!"

佛Phật 語ngứ 瓶Bình 沙Sa 王Vương
Phật bảo vua Ảnh Thắng:

爾nhĩ 時thời 老lão 母mẫu 者giả今kim 此thử 牸tự 牛ngưu 是thị 也dã三tam 賈cổ 客khách 者giả弗Phất 迦Ca 沙Sa 等đẳng 三tam 人nhân為vị 牛ngưu 所sở 觝để 殺sát 者giả 是thị 也dã
"Bà lão thuở ấy, nay chính là con trâu cái đó. Còn ba thương gia, nay chính là vua Pukkaśati và hai người kia; hai người bị trâu húc chết và một người bị sừng của nó đâm chết."

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

惡ác 言ngôn 罵mạ 詈lị
憍kiêu 陵lăng 蔑miệt 人nhân
興hưng 起khởi 是thị 行hành
疾tật 怨oán 茲tư 生sanh

"Mắng chửi nói lời ác
Kiêu ngạo khinh miệt người
Dấy khởi việc ác này
Oán hận càng sanh thêm

遜tốn 言ngôn 順thuận 辭từ
尊tôn 敬kính 於ư 人nhân
棄khí 結kết 忍nhẫn 惡ác
疾tật 怨oán 自tự 滅diệt

Thuận ngôn lời khiêm tốn
Tôn trọng kính mến người
Nhẫn ác trừ phiền não
Oán hận tự diệt tan

夫phù 士sĩ 之chi 生sanh
斧phủ 在tại 口khẩu 中trung
所sở 以dĩ 斬trảm 身thân
由do 其kỳ 惡ác 言ngôn

Lòng ác ai luôn giữ
Như rìu ở trong miệng
Cho nên tự trảm thân
Do bởi nói lời ác"

佛Phật 說thuyết 是thị 時thời瓶Bình 沙Sa 王Vương 官quan 屬thuộc一nhất 切thiết 莫mạc 不bất 恭cung 肅túc願nguyện 崇sùng 善thiện 行hành作tác 禮lễ 而nhi 去khứ
Khi Phật nói lời ấy xong, vua Ảnh Thắng và quần thần, không ai là chẳng cung kính. Tất cả đều nguyện làm lành. Sau đó, họ đảnh lễ Phật rồi cáo lui.

雙Song 要Yếu 品Phẩm 第đệ 九cửu
Phẩm 9: Song Yếu


昔tích 舍Xá 衛Vệ 國Quốc王vương 名danh 波Ba 斯Tư 匿Nặc來lai 至chí 佛Phật 所sở下hạ 車xa 卻khước 蓋cái解giải 劍kiếm 脫thoát 履lý拱củng 手thủ 直trực 進tiến
Thuở xưa, vị vua của nước Phong Đức tên là Thắng Quân. Một ngày nọ, ngài đi đến chỗ của Phật. Trước tiên nhà vua xuống xe, bảo kẻ hầu cầm lọng lui ra, rồi bỏ kiếm xuống và cởi giày. Sau đó ngài chắp tay và đi thẳng về phía trước.

五ngũ 體thể 投đầu 地địa稽khể 首thủ 足túc 下hạ長trường 跪quỵ 白bạch 佛Phật
Khi đến nơi, nhà vua cúi đầu đảnh lễ sát đất với trán chạm sát chân của Phật, hai gối quỳ và thưa với Phật rằng:

願nguyện 以dĩ 來lai 日nhật於ư 四tứ 街nhai 道đạo施thi 設thiết 微vi 食thực欲dục 使sử 國quốc 人nhân知tri 佛Phật 至chí 尊tôn願nguyện 令linh 眾chúng 生sanh遠viễn 鬼quỷ 妖yêu 蠱cổ悉tất 奉phụng 五Ngũ 戒Giới以dĩ 消tiêu 國quốc 患hoạn
"[Thưa Thế Tôn!] Vào ngày mai, con muốn thiết lễ cúng dường Phật ở ngã tư đường trong thành. Con muốn làm cho dân chúng trong nước biết đến Thế Tôn. Hầu khiến chúng sanh lìa xa ác quỷ, yêu tinh, và ngải độc, rồi họ sẽ phụng trì Năm Giới và những tai ách trong nước cũng sẽ tiêu tan."

佛Phật 言ngôn
Đức Phật bảo:

善thiện 哉tai夫phù 為vi 國quốc 主chủ宜nghi 有hữu 明minh 導đạo率suất 民dân 以dĩ 道Đạo求cầu 來lai 世thế 福phước
"Lành thay! Ngài là chủ của muôn dân. Ngài nên có một đường lối sáng suốt để thống lãnh nhân dân vào chánh Đạo và cầu phước điền cho đời sau."

王vương 曰viết
Nhà vua thưa rằng:

至Chí 真Chân請thỉnh 退thoái 嚴nghiêm 辦biện
"Thưa Thế Tôn! Con xin trở về để chuẩn bị."

手thủ 自tự 為vi 饌soạn身thân 往vãng 奉phụng 迎nghênh佛Phật 與dữ 眾chúng 僧Tăng俱câu 至chí 四tứ 衢cù佛Phật 至chí 就tựu 座tòa即tức 行hành 澡táo 水thủy手thủ 自tự 斟châm 酌chước佛Phật 飯phạn 食thực 畢tất於ư 四tứ 道đạo 頭đầu為vì 王vương 說thuyết 法Pháp觀quan 者giả 無vô 數số時thời 有hữu 兩lưỡng 商thương 人nhân
Lúc ấy nhà vua tự tay chuẩn bị thức ăn cho Phật, rồi đích thân đến tinh xá để nghênh tiếp. Bấy giờ Đức Phật và chư Tăng đều đến ở ngã tư đường. Khi đến chỗ ngồi, Đức Phật liền rửa tay, rồi thọ trai. Khi đã dùng cơm xong, Đức Phật thuyết Pháp cho nhà vua ở ngã tư đường. Bấy giờ có vô số người đến xem, và trong số ấy có hai thương nhân.

一nhất 人nhân 念niệm 曰viết
Một người thì nghĩ rằng:

佛Phật 如như 帝đế 王vương弟đệ 子tử 猶do 忠trung 臣thần佛Phật 陳trần 明minh 法Pháp弟đệ 子tử 誦tụng 宣tuyên斯tư 王vương 明minh 矣hĩ知tri 佛Phật 可khả 尊tôn屈khuất 意ý 奉phụng 之chi
"Phật ví như đế vương. Đệ tử ví như trung thần. Phật thuyết giảng Chánh Pháp. Đệ tử đọc tụng và tuyên giảng lời Phật dạy. Ông vua này là một bậc minh quân, bởi ngài biết Đức Phật là bậc tôn quý nên hết lòng phụng sự."

一nhất 人nhân 念niệm 曰viết
Một kẻ khác lại nghĩ rằng:

斯tư 王vương 愚ngu 哉tai爾nhĩ 為vi 國quốc 王vương將tương 復phục 何hà 求cầu佛Phật 者giả 若nhược 牛ngưu弟đệ 子tử 猶do 車xa彼bỉ 牛ngưu 牽khiên 車xa東đông 西tây 南nam 北bắc佛Phật 亦diệc 如như 是thị子tử 有hữu 何hà 道Đạo而nhi 下hạ 意ý 奉phụng 之chi
"Ông vua này quá ngu dốt. Đã làm vua rồi mà sao còn hầu hạ ai chứ? Phật ví như trâu. Đệ tử ví như xe. Con trâu kia kéo xe đi khắp đông tây nam bắc. Phật cũng lại như vậy. Ông ta có Đạo hạnh gì mà nhà vua phải hạ mình vâng lời như thế?"

二nhị 人nhân 俱câu 去khứ行hành 三tam 十thập 里lý亭đình 宿túc沽cô 酒tửu 共cộng 飲ẩm平bình 論luận 屬thuộc 事sự其kỳ 善thiện 念niệm 者giả四Tứ 王Vương 護hộ 之chi其kỳ 惡ác 念niệm 者giả太thái 山sơn 鬼quỷ 神thần令linh 酒tửu 入nhập 腹phúc如như 火hỏa 燒thiêu 身thân出xuất 亭đình 路lộ 臥ngọa宛uyển 轉chuyển 轍triệt 中trung晨thần 商thương 人nhân 車xa五ngũ 百bách 乘thừa 轢lịch 殺sát 之chi焉yên 伴bạn 明minh 日nhật求cầu 之chi 已dĩ 然nhiên
Khi đã tham quan xong, hai người họ đều rời khỏi. Sau khi đi được khoảng 30 dặm đường, họ nghỉ đêm ở một cái đình, rồi cùng mua rượu để uống và bình luận về việc đã thấy hôm nay. Bấy giờ người khởi niệm thiện thì được Bốn Vị Thiên Vương hộ vệ. Còn kẻ khởi niệm ác thì bị thái sơn quỷ thần theo rượu vào trong bụng và khiến thân thể như lửa đốt. Do say rượu nên gã đi ra đường cái mà nằm, và kết quả hắn bị 500 cỗ xe của đoàn thương gia cán chết khi họ khởi hành vào lúc sáng sớm tinh mơ. Ngày hôm sau, khi người bạn đi kiếm thì mới phát hiện sự việc.

曰viết
Anh ta thầm nghĩ:

還hoàn 國quốc 見kiến 疑nghi殺sát 人nhân 取thủ 物vật 去khứ不bất 義nghĩa 輕khinh 身thân
"Nếu mình trở về nước thì sẽ bị nghi ngờ là kẻ giết người cướp của, và gán cho mình cái tội bất nghĩa tham tài."

委ủy 財tài 逝thệ 至chí 他tha 國quốc國quốc 王vương 崩băng 亡vong無vô 有hữu 大đại 子tử
Do đó, anh ta vứt bỏ tài vật bỏ trốn đến nước khác. Đương thời ông vua của nước đó băng hà và không có con nối ngôi.

讖sấm 書thư 云vân
Vào thời ấy ở nước đó có sấm thư truyền rằng:

中trung 土thổ 有hữu 微vi 人nhân當đương 王vương 斯tư 土thổ
"Ở vùng trung thổ sẽ có một người xuất thân thấp hèn và sẽ làm vua nước này."

故cố 王vương 有hữu 神thần 馬mã任nhậm 王vương 必tất 屈khuất 膝tất即tức 具cụ 嚴nghiêm 駕giá神thần 馬mã 印ấn 綬thụ行hành 求cầu 國quốc 主chủ觀quan 者giả 數sổ 千thiên商thương 人nhân 亦diệc 出xuất
Ông vua trước có một con ngựa thần. Nếu đúng là quốc vương thì nó mới quỳ gối xuống. Cho nên quần thần liền trang hoàng xe ngựa. Họ mang theo ngựa thần, ngọc ấn, và đi tìm quốc chủ. Khi đến một nơi kia, có vài ngàn người đến xem và người thương nhân kia cũng ở đó.

國quốc 太thái 史sử 曰viết
Bấy giờ vị quan thái sử nói rằng:

彼bỉ 有hữu 黃hoàng 雲vân 之chi 蓋cái斯tư 王vương 者giả 氣khí 也dã
"Người kia có một cái lọng mây vàng che trên đỉnh đầu. Đó là tướng trạng biểu thị cho quốc vương."

神thần 馬mã 屈khuất 膝tất 。舐thỉ 商thương 人nhân 足túc群quần 臣thần 豫dự 作tác香hương 湯thang 澡táo 浴dục拜bái 為vi 國quốc 王vương
Và thế là, họ dắt ngựa thần đến chỗ của vị thương nhân kia. Ngựa thần liền quỳ gối xuống và liếm chân của người ấy. Bấy giờ quần thần đều vui mừng. Họ dùng nước hương tắm gội người ấy và bái làm vua.

於ư 是thị 遂toại 處xứ 位vị聽thính 省tỉnh 國quốc 事sự深thâm 自tự 思tư 曰viết
Sau khi đã lên ngôi và cai quản việc nước, có một hôm ngài tự suy nghĩ rằng:

余dư 無vô 微vi 善thiện何hà 緣duyên 獲hoạch 此thử必tất 是thị 佛Phật 恩ân使sử 之chi 然nhiên 也dã
"Ta không làm một chút việc lành nào. Tại sao lại được làm vua? Đây chắc chắn là nhờ hồng ân của Phật nên mới khiến ta được như thế."

即tức 與dữ 群quần 臣thần向hướng 舍Xá 衛Vệ 國Quốc遙diêu 稽khể 首thủ 曰viết
Sau đó, ngài cùng với quần thần hướng về thành Phong Đức, rồi cúi đầu từ xa và thưa rằng:

賤tiện 人nhân 無vô 德đức蒙mông 世Thế 尊Tôn 慈từ 恩ân得đắc 王vương 此thử 國quốc明minh 日nhật 願nguyện 與dữ應Ứng 真Chân 眾chúng 俱câu埀thùy 意ý 顧cố 斯tư
"Con là người ty tiện vô đức. Xin Thế Tôn từ bi hãy rủ lòng thương xót mà cùng với các vị Ứng Chân đến đất nước của con vào ngày mai để con thiết lễ cúng dường."

一nhất 時thời 三tam 月nguyệt佛Phật 告cáo 阿A 難Nan
Bấy giờ là tháng Ba, Phật bảo ngài Khánh Hỷ:

勅sắc 諸chư 比Bỉ 丘Khâu明minh 日nhật 彼bỉ 王vương 請thỉnh皆giai 當đương 作tác 變biến 化hóa令linh 彼bỉ 國quốc 王vương人nhân 民dân 歡hoan 喜hỷ
"Ông bảo các vị Bhikṣu hãy chuẩn bị. Có một vị vua của một nước nọ đã cung thỉnh đến vương cung để cúng dường vào ngày mai. Tất cả đều sẽ hiện thần thông biến hóa để khiến nhà vua và dân chúng của ngài hoan hỷ."

各các 作tác 神thần 足túc往vãng 到đáo 彼bỉ 國quốc皆giai 次thứ 就tựu 座tòa如như 法Pháp 儼nghiễm 然nhiên下hạ 食thực 畢tất 訖ngật 澡táo 手thủ為vì 王vương 說thuyết 法Pháp
Và thế là, các vị đại Bhikṣu dùng Thần Túc Thông đi đến nước kia và theo thứ tự vào chỗ ngồi. Tất cả đều như Pháp trang nghiêm. Sau khi đã thọ trai và rửa tay xong, Đức Phật thuyết Pháp cho nhà vua.

王vương 曰viết
Nhà vua thưa rằng:

吾ngô 本bổn 微vi 人nhân素tố 無vô 快khoái 德đức何hà 緣duyên 獲hoạch 斯tư
"[Thưa Thế Tôn!] Con vốn là một kẻ thấp hèn và không có công đức gì, song do nhân duyên gì mà khiến con được làm vua?"

佛Phật 告cáo 王vương 曰viết
Phật bảo nhà vua rằng:

昔tích 彼bỉ 大đại 王vương 飯phạn 佛Phật於ư 四tứ 衢cù 道đạo
"Lúc trước có một vị quốc vương cúng dường thức ăn cho Phật ở ngã tư đường.

王vương 心tâm 念niệm 言ngôn
Khi ấy trong lòng của đại vương đã nghĩ rằng:

佛Phật 如như 國quốc 王vương弟đệ 子tử 猶do 臣thần 下hạ
'Phật ví như đế vương. Đệ tử ví như trung thần.'

王vương 種chúng 斯tư 核hạch今kim 自tự 獲hoạch 果quả
Do trồng thiện căn ấy mà nay ngài được quả lành.

後hậu 一nhất 人nhân 云vân
Sau đó cũng có một kẻ khởi niệm rằng:

佛Phật 者giả 若nhược 牛ngưu弟đệ 子tử 猶do 車xa
'Phật ví như trâu. Đệ tử ví như xe.'

彼bỉ 人nhân 自tự 種chúng車xa 轢lịch 之chi 核hạch今kim 在tại 太Thái 山Sơn 地Địa 獄Ngục為vị 火hỏa 車xa 所sở 轢lịch自tự 獲hoạch 其kỳ 果quả然nhiên 非phi 王vương 勇dũng 健kiện所sở 能năng 致trí 矣hĩ為vi 善thiện 福phước 隨tùy為vi 惡ác 禍họa 追truy此thử 為vi 自tự 作tác非phi 天thiên 龍long 鬼quỷ 神thần所sở 不bất 能năng 與dữ 此thử
Do kẻ kia tự mình gieo nhân của xe cán, nên hiện đang đọa Địa ngục Thái Sơn và bị những cỗ xe bằng lửa cán nát. Kẻ kia tự mình gieo nhân nên gặp quả báo như thế. Còn về ngôi vua thì chẳng phải là người có sức mạnh mà có thể đoạt được. Những ai làm lành, phước sẽ tùy thân. Những ai làm ác, họa sẽ truy đuổi. Đây đều do mình làm, chứ không phải có thiên long quỷ thần nào mà có thể ban cho.

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

心tâm 為vi 法pháp 本bổn
心tâm 尊tôn 心tâm 使sử
中trung 心tâm 念niệm 惡ác
即tức 言ngôn 即tức 行hành
罪tội 苦khổ 自tự 追truy
車xa 轢lịch 於ư 轍triệt

"Tâm là gốc các pháp
Tâm chỉ đạo làm chủ
Nếu trong tâm nghĩ ác
Thì liền nói liền làm
Tội khổ tự truy đuổi
Như bánh xe theo vết

心tâm 為vi 法pháp 本bổn
心tâm 尊tôn 心tâm 使sử
中trung 心tâm 念niệm 善thiện
即tức 言ngôn 即tức 行hành
福phước 樂lạc 自tự 追truy
如như 影ảnh 隨tùy 形hình

Tâm là gốc các pháp
Tâm chỉ đạo làm chủ
Nếu trong tâm nghĩ thiện
Thì liền nói liền làm
Phước lạc tự truy đuổi
Như bóng hiện theo hình"

佛Phật 說thuyết 經Kinh 偈kệ 已dĩ王vương 及cập 臣thần 民dân聽thính 者giả 無vô 數số皆giai 大đại 歡hoan 喜hỷ逮đãi 得đắc 法Pháp 眼nhãn
Khi Phật nói kệ xong, nhà vua cùng quần thần, dân chúng với vô số người đến nghe thảy đều vui mừng khôn xiết, và họ đều đắc Pháp nhãn.




昔tích 長Trưởng 者giả 須Tu 達Đạt買mãi 太thái 子tử 園viên 田điền共cộng 造tạo 精tinh 舍xá奉phụng 上thượng 世Thế 尊Tôn各các 請thỉnh 佛Phật 及cập 僧Tăng供cúng 養dường 一nhất 月nguyệt佛Phật 為vì 二nhị 人nhân廣quảng 陳trần 明minh 法Pháp皆giai 得đắc 道Đạo 跡tích太Thái 子tử 祇Kỳ 陀Đà歡hoan 喜hỷ 還hoàn 東đông 宮cung歎thán 佛Phật 之chi 德đức作tác 樂nhạc 自tự 娛ngu祇Kỳ 弟đệ 瑠Lưu 璃Ly常thường 在tại 王vương 邊biên
Thuở xưa Trưởng giả Cấp Cô Độc mua khu vườn của Thái tử Chiến Thắng để cùng xây tinh xá và dâng lên Thế Tôn. Mỗi vị đều thỉnh Phật cùng chư Tăng suốt một tháng để cúng dường. Phật cũng rộng giảng rõ Chánh Pháp cho hai vị ấy và khiến họ đều thấy dấu Đạo. Bấy giờ Thái tử Chiến Thắng rất vui mừng, tán thán công đức của Phật, rồi trở về đông cung và khảy nhạc tiêu khiển. Còn Vương tử Lưu Ly, em của Thái tử Chiến Thắng, thì thường bên cạnh phụ vương.

時thời 王vương 素tố 服phục與dữ 諸chư 近cận 臣thần及cập 後hậu 宮cung 夫phu 人nhân往vãng 詣nghệ 佛Phật 所sở稽khể 首thủ 禮lễ 畢tất一nhất 心tâm 聽thính 經Kinh瑠Lưu 璃Ly 在tại 後hậu典điển 衛vệ 御ngự 座tòa
Bấy giờ vua Thắng Quân thay đổi y phục, rồi cùng với những vị cận thần và các phu nhân ở hậu cung đi đến chỗ của Phật. Khi đã cúi đầu đảnh lễ xong, ngài nhất tâm nghe Pháp. Khi ấy chỉ có Vương tử Lưu Ly ở lại để canh giữ vương cung.

時thời 諸chư 倿nịnh 臣thần阿A 薩Tát 陀Đà 等đẳng姦gian 謀mưu 啟khải 曰viết
Đương thời có nịnh thần tên là Bất Tín và những kẻ khác đến trước Vương tử Lưu Ly và bày mưu tâu rằng:

試thí 著trước 大đại 王vương 印ấn 綬thụ坐tọa 御ngự 座tòa 上thượng如như 似tự 王vương 不phủ
"Nếu vương tử nhân cơ hội này mà mặc y bào của phụ vương ngài, rồi ngồi lên ngai vàng thì có khác gì như quốc vương đâu?"

於ư 是thị 瑠Lưu 璃Ly即tức 隨tùy 其kỳ 言ngôn被bị 服phục 昇thăng 座tòa
Vương tử Lưu Ly liền nghe theo lời của những kẻ gian thần, khoác lên y bào, rồi ngồi lên ngai vàng.

諸chư 倿nịnh 臣thần 等đẳng皆giai 共cộng 拜bái 賀hạ正chánh 似tự 大đại 王vương
Khi ấy bọn nịnh thần đều cùng đến bái lạy như là quốc vương vậy.


[Họ tâu rằng:]

千thiên 載tái 遭tao 遇ngộ黎lê 庶thứ 之chi 願nguyện豈khởi 使sử 東đông 宮cung𨶳khuy 𨵦du 於ư 此thử此thử 之chi 御ngự 座tòa 豈khởi可khả 昇thăng 而nhi 復phục 下hạ 也dã
"Đây là cơ hội ngàn năm mới gặp. Ngài thuận theo dân tình mà đăng cơ, há có lý nào phải nhường cho đông cung thái tử? Ngai vàng này ngài đã có thể ngồi lên, chẳng lẽ phải leo xuống hay sao?"

即tức 率suất 所sở 從tùng貫quán 甲giáp 拔bạt 劍kiếm自tự 就tựu 到đáo 祇Kỳ 洹Hoàn 精Tinh 舍Xá斥xích 徙tỉ 大đại 王vương不bất 得đắc 還hoàn 宮cung與dữ 王vương 官quan 屬thuộc戰chiến 祇Kỳ 洹Hoàn 間gian殺sát 王vương 近cận 臣thần五ngũ 百bách 餘dư 人nhân王vương 與dữ 夫phu 人nhân播bá 迸bính 晨thần 夜dạ至chí 舍Xá 夷Di 國Quốc中trung 道đạo 飢cơ 餓ngạ王vương 噉đạm 蘆lô 菔bặc腹phúc 脹trướng 而nhi 薨hoăng
Thế là Vương tử Lưu Ly liền mặc áo giáp, cầm kiếm, rồi tự dẫn binh đến Tinh xá Kỳ Viên, la hét xua đuổi vua Thắng Quân và không cho trở về cung. Bấy giờ thị vệ của nhà vua chiến đấu với binh lính của Vương tử Lưu Ly ở gần Tinh xá Kỳ Viên. Kết quả là hơn 500 cận thần của nhà vua bị giết. Nhà vua cùng với phu nhân phi ngựa suốt đêm để chạy trốn và đến sáng thì mới tới nước Hoàng Sắc. Ở giữa đường vì quá đói khát, vua Thắng Quân đã ăn rau cải, khiến bụng trương phình nên liền băng hà.

於ư 是thị 瑠Lưu 璃Ly遂toại 即tức 專chuyên 制chế便tiện 拔bạt 劍kiếm 入nhập 東đông 宮cung斫chước 殺sát 兄huynh 祇Kỳ祇Kỳ 知tri 無vô 常thường心tâm 不bất 恐khủng 懼cụ顏nhan 色sắc 不bất 變biến含hàm 笑tiếu 熙hi 怡di甘cam 心tâm 受thọ 刃nhận命mạng 未vị 絕tuyệt 間gián聞văn 虛hư 空không 中trung自tự 然nhiên 音âm 樂nhạc 聲thanh迎nghênh 其kỳ 魂hồn 神thần
Vương tử Lưu Ly liền nắm quyền thống trị, rồi cầm kiếm vào đông cung để giết chết anh mình. Thái tử Chiến Thắng biết là vô thường nên lòng chẳng kinh sợ, sắc mặt không thay đổi, vui cười rạng rỡ và cam tâm thọ nhận. Khi sắp mạng chung, thái tử nghe giữa không trung có tiếng nhạc tự nhiên trỗi lên để nghênh tiếp thần thức của mình.

佛Phật 於ư 祇Kỳ 洹Hoàn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Bấy giờ Phật ở Tinh xá Kỳ Viên và liền nói kệ rằng:

造tạo 喜hỷ 後hậu 喜hỷ
行hành 善thiện 兩lưỡng 喜hỷ
彼bỉ 喜hỷ 惟duy 歡hoan
見kiến 福phước 心tâm 安an

"Tạo vui đời sau vui
Làm thiện với hoan hỷ
Hân hoan thường vui vẻ
Thấy phước tâm an nhiên

今kim 歡hoan 後hậu 歡hoan
為vi 善thiện 兩lưỡng 歡hoan
厥quyết 為vi 自tự 祐hựu
受thọ 福phước 悅duyệt 豫dự

Nay vui đời sau vui
Làm thiện với hoan hỷ
Tự mình gặp duyên lành
Phước báo thọ an vui

是thị 時thời 瑠Lưu 璃Ly 王Vương尋tầm 興hưng 兵binh 眾chúng伐phạt 舍Xá 夷Di 國Quốc殺sát 害hại 釋Thích 種chủng道Đạo 跡tích 之chi 人nhân殘tàn 暴bạo 無vô 道đạo五ngũ 逆nghịch 兼kiêm 備bị佛Phật 記ký 瑠Lưu 璃Ly不bất 孝hiếu 不bất 忠trung眾chúng 罪tội 深thâm 重trọng卻khước 後hậu 七thất 日nhật當đương 為vị 地địa 獄ngục火hỏa 所sở 燒thiêu 殺sát又hựu 太thái 史sử 記ký記ký 與dữ 佛Phật 同đồng王vương 大đại 怖bố 懅cứ即tức 乘thừa 船thuyền 入nhập 江giang
Sau khi soán ngôi đoạt vị, vua Lưu Ly khởi binh đánh phá nước Hoàng Sắc và giết hại rất nhiều vị đã thấy dấu Đạo của dòng họ Thích. Vua Lưu Ly tàn bạo vô đạo và đã tạo năm tội ngỗ nghịch. Do đó Phật nói rằng, vua Lưu Ly do bất hiếu bất trung và tạo những tội tày trời, nên bảy ngày sau, sẽ bị lửa của địa ngục thiêu chết. Đương thời có một vị quan thái sử tuyên đoán về số mạng của vua Lưu Ly và cũng nói giống như Đức Phật. Bởi vậy vua Lưu Ly sợ hãi kinh hoàng và lập tức ngồi thuyền ra giữa sông lớn.


[Hắn ta nói rằng:]

吾ngô 今kim 處xứ 水thủy火hỏa 焉yên 得đắc 來lai
"Ta bây giờ ở giữa dòng nước mênh mông. Xem lửa làm sao đến?"

七thất 日nhật 日nhật 中trung有hữu 自tự 然nhiên 火hỏa從tùng 水thủy 中trung 出xuất燒thiêu 船thuyền 覆phú 沒một王vương 亦diệc 被bị 燒thiêu恐khủng 怖bố 毒độc 熱nhiệt忽hốt 然nhiên 沈trầm 終chung
Đúng ngày thứ bảy, tự nhiên có lửa từ trong nước vọt ra, thiêu hủy và nhấn chìm thuyền. Vua Lưu Ly cũng bị thiêu đốt bởi nhiệt não hãi hùng, và thoáng chốc bị nước dìm chết.

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

造tạo 憂ưu 後hậu 憂ưu
行hành 惡ác 兩lưỡng 憂ưu
彼bỉ 憂ưu 唯duy 懼cụ
見kiến 罪tội 心tâm 懅cứ

"Gây ưu đời sau ưu
Tạo ác với sầu muộn
Sợ hãi luôn ưu phiền
Thấy tội lòng ngậm ngùi

今kim 悔hổi 後hậu 悔hổi
為vi 惡ác 兩lưỡng 悔hổi
厥quyết 為vi 自tự 殃ương
受thọ 罪tội 熱nhiệt 惱não

Nay khổ đời sau khổ
Làm ác với khổ đau
Tự mình gặp tai ương
Thọ tội phiền não nhiệt"

佛Phật 說thuyết 是thị 已dĩ告cáo 諸chư 比Bỉ 丘Khâu
Khi nói lời ấy xong, Phật bảo các vị Bhikṣu rằng:

太Thái 子tử 祇Kỳ 者giả不bất 貪tham 榮vinh 位vị守thủ 死tử 懷hoài 道Đạo上thượng 生sanh 天thiên 上thượng安an 樂lạc 自tự 然nhiên瑠Lưu 璃Ly 王Vương 者giả狂cuồng 愚ngu 快khoái 意ý死tử 墮đọa 地địa 獄ngục受thọ 苦khổ 無vô 數số
"Thái tử Chiến Thắng do chẳng tham vương vị vinh hoa và luôn giữ chí phụng Đạo, nên khi chết được sanh lên trời để thọ hưởng an vui. Còn vua Lưu Ly, do cuồng loạn ngu dốt và phóng túng đắc ý, nên khi chết đọa địa ngục để chịu muôn vàn thống khổ.

一nhất 切thiết 世thế 間gian豪hào 貴quý 貧bần 賤tiện皆giai 歸quy 無vô 常thường無vô 長trường 存tồn 者giả是thị 以dĩ 高cao 士sĩ殞vẫn 命mạng 全toàn 行hành為vi 精tinh 神thần 寶bảo
Chẳng kể là người giàu sang hay kẻ nghèo hèn trên thế gian, tất cả đều bị vô thường chi phối và không ai là sẽ sống mãi. Vì lẽ đó nên những bậc hiền minh, dù có mất cả tánh mạng thì họ vẫn luôn bảo hộ căn lành như báu."

佛Phật 說thuyết 是thị 時thời莫mạc 不bất 信tín 受thọ
Khi Phật nói lời ấy xong, không ai là chẳng tín thọ.




昔tích 耆Kỳ 闍Xà 崛Quật 山Sơn後hậu 有hữu 婆Bà 羅La 門Môn七thất 十thập 餘dư 家gia宿túc 福phước 應ưng 度độ佛Phật 到đáo 其kỳ 村thôn現hiện 道Đạo 神thần 化hóa眾chúng 人nhân 見kiến 佛Phật光quang 相tướng 巍nguy 巍nguy莫mạc 不bất 敬kính 伏phục
Thuở xưa ở phía sau của núi Thứu Phong, có trên 70 gia đình thuộc dòng dõi Phạm Chí đang sinh sống. Do biết phước đức của họ ở đời trước và đáng được hóa độ, nên Đức Phật đi đến thôn đó và hiện sức thần thông biến hóa. Khi mọi người thấy quang minh và tướng hảo uy nghiêm của Phật, không ai là chẳng kính phục.

佛Phật 坐tọa 樹thụ 下hạ問vấn 諸chư 梵Phạm 志Chí
Tiếp đến Đức Phật ngồi ở dưới một gốc cây và hỏi các Phạm Chí rằng:

居cư 此thử 山sơn 中trung為vi 幾kỷ 何hà 世thế有hữu 何hà 方phương 業nghiệp以dĩ 自tự 供cung 給cấp
"Tổ tiên các người cư trú trong núi này đã trải qua bao nhiêu thế hệ, và các người làm những việc gì để sinh sống?"

答đáp 曰viết
Đáp rằng:

居cư 此thử 以dĩ 來lai三tam 十thập 餘dư 世thế田điền 作tác 畜súc 牧mục以dĩ 此thử 為vi 業nghiệp
"Dạ thưa, tổ tiên chúng con cư trú nơi đây đã trải qua hơn 30 thế hệ. Chúng con trồng ruộng và nuôi súc vật để sinh sống."

又hựu 問vấn
Đức Phật lại hỏi rằng:

奉phụng 脩tu 何hà 行hành求cầu 離ly 生sanh 死tử
"Các người phụng sự và tu hành như thế nào để mong lìa khỏi sanh tử?"

答đáp 曰viết
Đáp rằng:

事sự 日nhật 月nguyệt 水thủy 火hỏa隨tùy 時thời 祭tế 祠từ若nhược 有hữu 死tử 者giả大đại 小tiểu 聚tụ 會hội唱xướng 生sanh 梵Phạm 天Thiên以dĩ 離ly 生sanh 死tử
"Dạ thưa, chúng con thờ bái mặt trời, mặt trăng, thần nước, và thần lửa; chúng con tùy thời mà cúng tế. Giả sử khi có ai chết, tất cả lớn nhỏ ở trong thôn đều nhóm họp, rồi xướng tụng để mong họ lìa sanh tử và sanh lên cõi Phạm Thiên."

佛Phật 語ngứ 諸chư 婆Bà 羅La 門Môn
Phật bảo các Phạm Chí:

夫phù 田điền 作tác 畜súc 牧mục祭tế 祠từ 日nhật 月nguyệt 水thủy 火hỏa唱xướng 叫khiếu 生sanh 天thiên非phi 是thị 長trường 存tồn離ly 生sanh 死tử 法Pháp極cực 福phước 無vô 過quá二nhị 十thập 八bát 天thiên無vô 有hữu 道Đạo 慧tuệ還hoàn 墮đọa 三tam 塗đồ唯duy 有hữu 出xuất 家gia修tu 清thanh 淨tịnh 志chí履lý 行hành 寂tịch 義nghĩa可khả 得đắc 泥Nê 洹Hoàn
"Các người trồng ruộng, nuôi súc vật để sinh sống, và thờ bái mặt trời, mặt trăng, thần nước, thần lửa. Rồi khi có ai chết thì xướng tụng để cầu cho họ sanh lên cõi Phạm Thiên. Đây không phải là Pháp chân thật cứu cánh để rời xa sanh tử. Dù là phước đức vô song thì cũng không thể vượt khỏi 28 cõi trời. Do họ chẳng có con mắt trí tuệ của Đạo nên rồi cũng sa đọa và sanh trở lại trong ba đường ác. Duy chỉ có xuất gia để sống thanh tịnh và tu hành chân lý của tịch diệt, thì mới có thể được diệt độ."

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

以dĩ 真chân 為vi 偽ngụy
以dĩ 偽ngụy 為vi 真chân
是thị 為vi 邪tà 計kế
不bất 得đắc 真chân 利lợi

"Lấy thật cho là giả
Lấy giả cho là thật
Đó là tâm tà kiến
Không được lợi ích lành

知tri 真chân 為vi 真chân
見kiến 偽ngụy 為vi 偽ngụy
是thị 為vi 正chánh 計kế
必tất 得đắc 真chân 利lợi

Chân thật biết là thật
Hư ngụy biết là giả
Đó là tâm chánh kiến
Tất được lợi ích lành

世thế 皆giai 有hữu 死tử
三tam 界giới 無vô 安an
諸chư 天thiên 雖tuy 樂lạc
福phước 盡tận 亦diệc 喪táng

Thế gian đều phải chết
Khắp ba cõi không an
Chư thiên tuy vui sướng
Phước hết cũng tiêu tan

觀quán 諸chư 世thế 間gian
無vô 生sanh 不bất 終chung
欲dục 離ly 生sanh 死tử
當đương 行hành 道Đạo 真chân

Hãy quán sát thế gian
Có sanh ắt phải chết
Muốn lìa sanh già chết
Chánh Đạo nên tu hành"

七thất 十thập 婆Bà 羅La 門Môn聞văn 佛Phật 所sở 說thuyết欣hân 然nhiên 意ý 解giải願nguyện 作tác 沙Sa 門Môn
Sau khi nghe Phật dạy, 70 Phạm Chí vui mừng, cõi lòng mở thông, và xin làm Đạo Nhân.

佛Phật 言ngôn
Đức Phật bảo:

善thiện 來lai 比Bỉ 丘Khâu
"Thiện lai, Bhikṣu!"

鬚tu 髮phát 自tự 墮đọa皆giai 成thành 沙Sa 門Môn佛Phật 與dữ 比Bỉ 丘Khâu共cộng 還hoàn 精tinh 舍xá至chí 於ư 中trung 路lộ顧cố 戀luyến 妻thê 息tức各các 有hữu 退thoái 意ý
Khi ấy râu tóc của các Phạm Chí tự rụng và họ đều trở thành Đạo Nhân. Bấy giờ Đức Phật cùng với các vị Bhikṣu trở về tinh xá. Tuy nhiên ở giữa đường, họ quyến luyến và nhớ vợ con nên ai nấy đều thoái tâm.

時thời 遇ngộ 天thiên 雨vũ益ích 懷hoài 憂ưu 慘thảm佛Phật 知tri 其kỳ 意ý便tiện 於ư 道đạo 邊biên化hóa 作tác 數sổ 十thập 間gian 舍xá入nhập 中trung 避tị 雨vũ而nhi 舍xá 穿xuyên 漏lậu
Đương lúc đó trời lại đổ mưa, khiến họ càng buồn bã não nề. Đức Phật biết ý niệm của họ nên liền hóa làm vài chục ngôi nhà ở ven đường. Khi ấy họ đều vào trong trú mưa. Tuy nhiên các mái nhà đều bị dột.

佛Phật 因nhân 舍xá 漏lậu而nhi 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Nhân do các mái nhà đều bị dột, Phật liền nói kệ rằng:

蓋cái 屋ốc 不bất 密mật
天thiên 雨vũ 則tắc 漏lậu
意ý 不bất 惟duy 行hành
婬dâm 泆dật 為vi 穿xuyên

"Mái nhà nếu chẳng kín
Trời mưa sẽ luôn rỉ
Ý ai không tư duy
Mãi có tham sân si

蓋cái 屋ốc 善thiện 密mật
雨vũ 則tắc 不bất 漏lậu
攝nhiếp 意ý 惟duy 行hành
婬dâm 匿nặc 不bất 生sanh

Mái nhà nếu lợp kín
Trời mưa sẽ chẳng rỉ
Ý ai tự tư duy
Vĩnh không tham sân si"

七thất 十thập 沙Sa 門Môn聞văn 說thuyết 此thử 偈kệ雖tuy 強cưỡng 自tự 進tiến猶do 懷hoài 瞢măng 瞢măng
Mặc dù đã nghe kệ của Phật và cố gắng chấn chỉnh tinh thần, nhưng trong lòng của 70 vị Đạo Nhân vẫn ôm giữ nỗi phiền muộn.

雨vũ 止chỉ 前tiền 行hành地địa 有hữu 故cố 紙chỉ佛Phật 告cáo 比Bỉ 丘Khâu 取thủ 之chi受thọ 教giáo 即tức 取thủ
Khi mưa tạnh, họ tiếp tục lên đường. Lúc ấy ở trên đất có một bao giấy cũ rách. Phật bảo một vị Bhikṣu hãy nhặt lấy. Vị Bhikṣu vâng lời và liền nhặt lấy.

佛Phật 問vấn 比Bỉ 丘Khâu
Phật hỏi các vị Bhikṣu rằng:

以dĩ 為vi 何hà 紙chỉ
"Đây là bao giấy gì?"

諸chư 比Bỉ 丘Khâu 白bạch 佛Phật
Các vị Bhikṣu thưa với Phật rằng:

此thử 裹khỏa 香hương 紙chỉ今kim 雖tuy 捐quyên 棄khí處xử 香hương 如như 故cố
"Dạ thưa, đó là bao giấy gói hương. Tuy giờ nó đã bị vứt bỏ, nhưng mùi thơm vẫn như xưa."

佛Phật 復phục 前tiền 行hành地địa 有hữu 斷đoạn 索sách佛Phật 告cáo 比Bỉ 丘Khâu 取thủ 之chi受thọ 教giáo 即tức 取thủ
Đức Phật tiếp tục đi về phía trước. Lúc ấy ở trên đất có một đoạn dây. Phật bảo một vị Bhikṣu hãy nhặt lấy. Vị Bhikṣu vâng lời và liền nhặt lấy.

佛Phật 復phục 問vấn 曰viết
Phật lại hỏi các vị Bhikṣu rằng:

此thử 何hà 等đẳng 索sách
"Đây là đoạn dây gì?"

諸chư 比Bỉ 丘Khâu 白bạch 佛Phật
Các vị Bhikṣu thưa với Phật rằng:

其kỳ 索sách 腥tinh 臭xú此thử 繫hệ 魚ngư 之chi 索sách
"Dạ thưa, đó là một đoạn dây tanh hôi và dùng để xâu những con cá."

佛Phật 語ngứ 比Bỉ 丘Khâu
Phật bảo các vị Bhikṣu rằng:

夫phù 物vật 本bổn 淨tịnh皆giai 由do 因nhân 緣duyên以dĩ 興hưng 罪tội 福phước近cận 賢hiền 明minh 則tắc 道Đạo 義nghĩa 隆long友hữu 愚ngu 闇ám 則tắc 殃ương 罪tội 臻trăn譬thí 彼bỉ 紙chỉ 索sách近cận 香hương 則tắc 香hương繫hệ 魚ngư 則tắc 腥tinh漸tiệm 染nhiễm 翫ngoạn 習tập各các 不bất 自tự 覺giác
"Bản tánh con người vốn thanh tịnh. Tất cả đều do nhân duyên mà khởi sanh nghiệp tội và phước báo. Nếu họ thân cận bậc hiền minh thì sẽ hiểu Đạo lý và có phước. Còn như họ kết giao với kẻ ngu si ám độn thì sẽ gặp tai ương. Đây cũng như bao giấy và đoạn dây kia: gần hương thì được mùi thơm, lấy xâu cá thì có mùi tanh. Phàm phu bị tập khí lâu dần nhiễm ô mà chính họ cũng chẳng tự biết."

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

鄙bỉ 夫phu 染nhiễm 人nhân
如như 近cận 臭xú 物vật
漸tiệm 迷mê 習tập 非phi
不bất 覺giác 成thành 惡ác

"Kẻ xấu ảnh hưởng người
Như gần vật hôi thối
Mê dần làm việc xấu
Bất giác trở thành ác

賢hiền 夫phu 染nhiễm 人nhân
如như 附phụ 香hương 熏huân
進tiến 智trí 習tập 善thiện
行hạnh 成thành 芳phương 潔khiết

Bậc hiền ảnh hưởng người
Như gần làn khói hương
Trí tăng làm việc lành
Hạnh nghiệp tỏa ngát thơm"

七thất 十thập 沙Sa 門Môn重trùng 聞văn 此thử 偈kệ知tri 家gia 欲dục 為vi 穢uế 藪tẩu妻thê 子tử 為vi 桎trất 梏cốc執chấp 信tín 堅kiên 固cố往vãng 至chí 精tinh 舍xá攝nhiếp 意ý 惟duy 行hành得đắc 羅La 漢Hán 道Đạo
Khi 70 vị Đạo Nhân lại một lần nữa nghe được các bài kệ này, họ biết rằng dục lạc của gia đình là nơi dơ bẩn, vợ con là gông cùm. Thế nên họ giữ tín tâm kiên định và đi đến tinh xá. Sau đó, họ nhiếp ý tư duy và đều đắc Đạo Ứng Chân.

放Phóng 逸Dật 品Phẩm 第đệ 十thập
Phẩm 10: Buông Lung


昔tích 佛Phật 在tại 世thế時thời 有hữu 五ngũ 百bách 賈cổ 客khách從tùng 海hải 中trung 出xuất大đại 持trì 七thất 寶bảo還hoàn 歸quy 本bổn 國quốc經kinh 歷lịch 深thâm 山sơn為vị 惡ác 鬼quỷ 所sở 迷mê不bất 能năng 得đắc 出xuất糧lương 食thực 乏phạp 盡tận窮cùng 頓đốn 困khốn 厄ách遂toại 皆giai 餓ngạ 死tử所sở 齎tê 寶bảo 貨hóa散tán 在tại 山sơn 間gian
Thuở xưa khi Phật còn tại thế, bấy giờ có 500 thương nhân, sau khi vào biển tìm châu báu, họ trở vào bờ. Họ mang nhiều vật bảy báu quý giá trở về nước. Thế nhưng lúc đi qua một khu rừng rậm, họ bị quỹ dữ làm cho lạc mất phương hướng và chẳng thể ra khỏi. Do lương thực hết sạch, họ phải chịu thống khổ tột cùng và cuối cùng đều bị đói chết. Tất cả châu báu của họ mang về thì nằm rải rác trong núi.

時thời 有hữu 沙Sa 門Môn在tại 山sơn 中trung 學học
Bấy giờ có một Đạo Nhân ở trong núi tu học.

見kiến 其kỳ 如như 此thử便tiện 起khởi 想tưởng 念niệm
Khi thấy những việc như thế, anh ta liền khởi nghĩ rằng:

吾ngô 勤cần 苦khổ 學học 道Đạo積tích 已dĩ 七thất 年niên不bất 能năng 得đắc 道Đạo又hựu 復phục 貧bần 窮cùng無vô 以dĩ 自tự 濟tế此thử 寶bảo 物vật 無vô 主chủ取thủ 之chi 持trì 歸quy用dụng 立lập 門môn 戶hộ
"Mình đã chịu khổ nhọc để học Đạo suốt bảy năm ròng mà chẳng thể đắc Đạo. Còn về gia cảnh của mình lúc xưa thì nghèo nàn và chẳng đủ nuôi thân. Hiện giờ những vật báu này vô chủ, chi bằng mình hãy cầm lấy về và tạo lập gia nghiệp."

於ư 是thị 下hạ 山sơn拾thập 取thủ 寶bảo 物vật藏tàng 著trước 一nhất 處xứ訖ngật 便tiện 出xuất 山sơn求cầu 呼hô 兄huynh 弟đệ負phụ 馳trì 持trì 歸quy方phương 到đáo 道đạo 半bán佛Phật 念niệm 比Bỉ 丘Khâu應ưng 當đương 得đắc 度độ佛Phật 便tiện 化hóa 作tác一nhất 比Bỉ 丘Khâu 尼Ni剃thế 頭đầu 法Pháp 服phục莊trang 面diện 畫họa 眉mi金kim 銀ngân 瓔anh 珞lạc隨tùy 谷cốc 入nhập 山sơn道đạo 逢phùng 沙Sa 門Môn頭đầu 面diện 作tác 禮lễ問vấn 訊tấn 起khởi 居cư
Và sau đó, anh ta nhặt lấy các vật báu và giấu cất ở một nơi, rồi định sau khi xuống núi, sẽ gọi các anh em để phụ mang về. Đi được khoảng nửa đường, lúc đó Phật biết vị Bhikṣu này đáng được hóa độ, nên Đức Phật hóa làm một vị Bhikṣuṇī, với đầu trọc mặc Pháp y nhưng lại trang điểm diêm dúa, vẽ lông mày, đeo xâu chuỗi anh lạc bằng vàng bạc, và trở về cốc ở trong núi. Lúc gặp Đạo Nhân ở giữa đường, vị Bhikṣuṇī cúi đầu đảnh lễ và nói lời thăm hỏi.

道Đạo 人Nhân 呵ha 比Bỉ 丘Khâu 尼Ni 曰viết
Đạo Nhân quở trách vị Bhikṣuṇī rằng:

為vi 道Đạo 之chi 法Pháp應ưng 得đắc 爾nhĩ 不phủ剃thế 頭đầu 著trước 法Pháp 衣y云vân 何hà 復phục 莊trang 面diện 畫họa 眉mi瓔anh 珞lạc 身thân 體thể 也dã
"Là người tu học Đạo Pháp thì sao có thể làm như thế được? Đầu đã cạo và mặc Pháp y, nhưng sao lại trang điểm diêm dúa, vẽ lông mày, và đeo xâu chuỗi anh lạc trên thân chứ?"

比Bỉ 丘Khâu 尼Ni 答đáp 曰viết
Vị Bhikṣuṇī đáp rằng:

沙Sa 門Môn 之chi 法Pháp為vi 應ưng 爾nhĩ 不phủ辭từ 親thân 學học 道Đạo山sơn 居cư 靜tĩnh 志chí云vân 何hà 復phục 取thủ非phi 其kỳ 財tài 物vật貪tham 欲dục 忘vong 道Đạo快khoái 心tâm 放phóng 意ý不bất 計kế 無vô 常thường生sanh 世thế 如như 寄ký罪tội 報báo 延diên 長trường
"Còn Pháp của Đạo Nhân thì làm như thế có đúng chăng? Đã từ giã người thân để vào núi rừng yên tĩnh học Đạo, sao lại lấy cất tài vật kia chứ? Tham dục bỏ Đạo, khoái tâm phóng ý, chẳng nghĩ vô thường, và bỏ mặc sanh tử thì tội báo tất sẽ gia tăng."

於ư 是thị 比Bỉ 丘Khâu 尼Ni為vi 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Bấy giờ vị Bhikṣuṇī nói kệ rằng:

比Bỉ 丘Khâu 謹cẩn 慎thận 戒giới
放phóng 逸dật 多đa 憂ưu 愆khiên
變biến 諍tranh 小tiểu 致trí 大đại
積tích 惡ác 入nhập 火hỏa 焚phần

"Bhikṣu hãy cẩn thận
Buông lung lắm ưu phiền
Tranh tụng nhỏ thành lớn
Tích ác vào đám lửa

守thủ 戒giới 福phước 致trí 喜hỷ
犯phạm 戒giới 有hữu 懼cụ 心tâm
能năng 斷đoạn 三tam 界giới 漏lậu
此thử 乃nãi 近cận 涅Niết 槃Bàn

Giữ giới tăng phước thiện
Phạm giới tâm lo âu
Khéo đoạn lậu ba cõi
Đó mới gần tịch diệt"

是thị 時thời 比Bỉ 丘Khâu 尼Ni說thuyết 此thử 偈kệ 已dĩ為vi 現hiện 佛Phật 身thân相tướng 好hảo 光quang 明minh沙Sa 門Môn 見kiến 之chi悚tủng 然nhiên 毛mao 竪thụ
Khi nói bài kệ này xong, vị Bhikṣuṇī hiện ra thân Phật với quang minh tướng hảo. Khi thấy vậy, Đạo Nhân sợ hãi đến nỗi khắp lông trên thân đều dựng đứng.

稽khể 首thủ 佛Phật 足túc悔hối 過quá 自tự 陳trần
Sau đó ngài cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật, rồi xin sám hối và tự trách rằng:

愚ngu 癡si 迷mê 謬mậu違vi 犯phạm 正chánh 教giáo往vãng 而nhi 不bất 返phản其kỳ 將tương 奈nại 何hà
"[Bạch Thế Tôn!] Con thật ngu si mê muội và đã vi phạm chánh giáo. Con đã lỡ sai phạm. Bây giờ con phải làm sao?"

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

若nhược 前tiền 放phóng 逸dật
後hậu 能năng 自tự 禁cấm
是thị 照chiếu 世thế 間gian
念niệm 定định 其kỳ 宜nghi

"Ai trước từng buông lung
Sau khéo tự cấm chế
Là chiếu sáng thế gian
Họ nên nhớ tu định

過quá 失thất 為vi 惡ác
追truy 覆phúc 以dĩ 善thiện
是thị 照chiếu 世thế 間gian
念niệm 善thiện 其kỳ 宜nghi

Thuở xưa lỡ làm ác
Bù lại siêng làm lành
Là chiếu sáng thế gian
Họ nên nhớ tu thiện

少thiếu 壯tráng 捨xả 家gia
盛thịnh 修tu 佛Phật 教giáo
是thị 照chiếu 世thế 間gian
如như 月nguyệt 雲vân 消tiêu

Thiếu niên mà xuất gia
Siêng tu lời Phật dạy
Là chiếu sáng thế gian
Như trăng lìa mây che

人nhân 前tiền 為vi 惡ác
後hậu 止chỉ 不bất 犯phạm
是thị 照chiếu 世thế 間gian
如như 月nguyệt 雲vân 消tiêu

Ai trước lỡ làm ác
Sau ngừng không tái phạm
Là chiếu sáng thế gian
Như trăng lìa mây che"

於ư 是thị 比Bỉ 丘Khâu重trùng 聞văn 此thử 偈kệ結kết 解giải 貪tham 止chỉ稽khể 首thủ 佛Phật 足túc還hoàn 到đáo 樹thụ 下hạ數sổ 息tức 相tương 隨tùy止Chỉ 觀Quán 還hoàn 淨tịnh獲hoạch 道Đạo 果Quả證chứng 成thành 阿A 羅La 漢Hán
Khi vị Bhikṣu lại một lần nữa nghe được các bài kệ này, sự ràng buộc được cởi bỏ và lòng tham muốn cũng dứt hẳn. Ngài cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật, rồi trở về ngồi dưới gốc cây và quán tưởng hơi thở. Do tu Chỉ Quán thanh tịnh, nên ngài đắc Đạo Quả và chứng thành bậc Ứng Chân.

心Tâm 意Ý 品Phẩm 第đệ 十thập 一nhất
Phẩm 11: Tâm Ý


昔tích 佛Phật 在tại 世thế時thời 有hữu 一nhất 道Đạo 人Nhân在tại 河hà 邊biên 樹thụ 下hạ 學học 道Đạo十thập 二nhị 年niên 中trung貪tham 想tưởng 不bất 除trừ走tẩu 心tâm 散tán 意ý但đãn 念niệm 六lục 欲dục目mục 色sắc 耳nhĩ 聲thanh鼻tị 香hương 口khẩu 味vị身thân 更cánh 心tâm 法pháp身thân 靜tĩnh 意ý 遊du曾tằng 無vô 寧ninh 息tức十thập 二nhị 年niên 中trung不bất 能năng 得đắc 道Đạo
Thuở xưa khi Phật còn tại thế, bấy giờ có một Đạo Nhân tu Đạo dưới một gốc cây gần bờ sông. Trải qua 12 năm ròng mà lòng tham vẫn không trừ, tâm ý tán loạn, và chỉ nhớ sáu điều tham muốn: mắt thấy hình sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi hương, lưỡi nếm mùi vị, thân cảm thọ xúc, và ý nhớ tưởng pháp. Tuy thân yên tĩnh tu Đạo nhưng tâm thì rong ruổi và chưa từng thôi nghỉ. Bởi vậy, dù tu suốt 12 năm mà chẳng thể đắc Đạo.

佛Phật 知tri 可khả 度độ化hóa 作tác 沙Sa 門Môn往vãng 至chí 其kỳ 所sở樹thụ 下hạ 共cộng 宿túc
Phật biết vị ấy đáng được hóa độ, nên Ngài hóa làm một vị Đạo Nhân, rồi đi đến chỗ của Đạo Nhân kia và cùng trú qua đêm ở dưới gốc cây.

須tu 臾du 月nguyệt 明minh有hữu 龜quy 從tùng 河hà 中trung出xuất 來lai 至chí 樹thụ 下hạ復phục 有hữu 一nhất 水thủy 狗cẩu飢cơ 行hành 求cầu 食thực與dữ 龜quy 相tương 逢phùng便tiện 欲dục 噉đạm 龜quy龜quy 縮súc 其kỳ 頭đầu尾vĩ 及cập 其kỳ 四tứ 脚cước藏tàng 於ư 甲giáp 中trung不bất 能năng 得đắc 噉đạm水thủy 狗cẩu 小tiểu 遠viễn復phục 出xuất 頭đầu 足túc行hành 步bộ 如như 故cố不bất 能năng 奈nại 何hà遂toại 便tiện 得đắc 脫thoát
Chẳng bao lâu sau khi mặt trăng vừa ló dạng, có một con rùa bơi ra từ dòng sông và bò đến dưới cây. Đương lúc đó, lại có một con rái cá bị đói đang đi kiếm mồi. Khi bắt gặp rùa, nó liền muốn ăn. Thế nhưng rùa rút đầu, đuôi, và bốn chân vào trong mai để ẩn nấp, khiến con rái cá chẳng tài nào bắt ăn được. Khi con rái cá đã đi xa một chút, rùa lại thò đầu và chân ra, rồi tiếp tục bò đi như cũ. Do đó, con rái cá chẳng thể làm gì hơn. Còn rùa với cách đó mà được trốn thoát.

於ư 是thị 道Đạo 人Nhân問vấn 化hóa 沙Sa 門Môn
Bấy giờ vị Đạo Nhân ấy nói với hóa Đạo Nhân rằng:

此thử 龜quy 有hữu 護hộ 命mạng 之chi 鎧khải水thủy 狗cẩu 不bất 能năng 得đắc 其kỳ 便tiện
"Con rùa này có áo giáp hộ mạng. Cho nên con rái cá chẳng thể bắt được."

化hóa 沙Sa 門Môn 答đáp 曰viết
Hóa Đạo Nhân đáp rằng:

吾ngô 念niệm 世thế 人nhân不bất 如như 此thử 龜quy不bất 知tri 無vô 常thường放phóng 恣tứ 六lục 情tình外ngoại 魔ma 得đắc 便tiện形hình 壞hoại 神thần 去khứ生sanh 死tử 無vô 端đoan輪luân 轉chuyển 五ngũ 道đạo苦khổ 惱não 百bách 千thiên皆giai 意ý 所sở 造tạo宜nghi 自tự 勉miễn 勵lệ求cầu 滅diệt 度độ 安an
"Tôi thấy người đời không bằng con rùa này. Họ chẳng biết vô thường, và buông thả sáu căn nên chúng ma thừa cơ trục lợi. Khi thân hoại thức sẽ ra đi và thọ sanh tử không ngừng. Họ luân chuyển trong năm đường và phải chịu khổ não muôn vàn. Tất cả đều do tâm ý gây ra. Cho nên nếu ai muốn thoát miễn thì hãy cầu an vui của diệt độ."

於ư 是thị 化hóa 沙Sa 門Môn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ hóa Đạo Nhân liền nói kệ rằng:

有hữu 身thân 不bất 久cửu
皆giai 當đương 歸quy 土thổ
形hình 壞hoại 神thần 去khứ
寄ký 住trụ 何hà 貪tham

"Thân này chẳng bao lâu
Trở về với cát bụi
Thân hoại thức ra đi
Sao còn tham luyến nhớ?

心tâm 豫dự 造tạo 處xứ
往vãng 來lai 無vô 端đoan
念niệm 多đa 邪tà 僻tích
自tự 為vi 招chiêu 患hoạn

Tâm hướng nơi tạo tác
Đến đi không dấu vết
Nếu lòng nhiều tà ác
Tai họa tự chuốc lấy

是thị 意ý 自tự 造tạo
非phi 父phụ 母mẫu 為vi
可khả 勉miễn 向hướng 正chánh
為vi 福phước 勿vật 回hồi

Niệm này do mình tạo
Chẳng phải cha mẹ làm
Trừ tà tu chánh định
Tu phước chớ thoái lui

藏tàng 六lục 如như 龜quy
防phòng 意ý 如như 城thành
慧tuệ 與dữ 魔ma 戰chiến
勝thắng 則tắc 無vô 患hoạn

Nhiếp sáu căn như rùa
Phòng hộ ý như thành
Kiếm tuệ chiến đấu ma
Thắng lợi không hoạn nạn"

於ư 是thị 比Bỉ 丘Khâu聞văn 說thuyết 此thử 偈kệ貪tham 斷đoạn 望vọng 止chỉ即tức 得đắc 羅La 漢Hán 道Đạo知tri 化hóa 沙Sa 門Môn是thị 佛Phật 世Thế 尊Tôn敬kính 肅túc 整chỉnh 服phục稽khể 首thủ 佛Phật 足túc天thiên 龍long 鬼quỷ 神thần莫mạc 不bất 歡hoan 喜hỷ
Khi vị Bhikṣu nghe hóa Đạo Nhân nói kệ, thì lòng tham đoạn trừ, vọng niệm đình chỉ. Ngài liền đắc Đạo Ứng Chân và biết hóa Đạo Nhân là Đức Phật Thế Tôn, nên sửa sang y phục, rồi cung kính và cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật. Bấy giờ trời rồng quỷ thần, không ai là chẳng hoan hỷ.

華Hoa 香Hương 品Phẩm 第đệ 十thập 二nhị
Phẩm 12: Hương Hoa (phần 1)


昔tích 佛Phật 在tại 舍Xá 衛Vệ 國Quốc國quốc 東đông 南nam 海hải 中trung 有hữu 臺đài臺đài 上thượng 有hữu 華hoa 香hương 樹thụ樹thụ 木mộc 清thanh 淨tịnh有hữu 婆Bà 羅La 門Môn 女nữ 五ngũ 百bách 人nhân奉phụng 事sự 異dị 道đạo意ý 甚thậm 精tinh 進tấn不bất 知tri 有hữu 佛Phật
Thuở xưa khi Phật còn tại thế, có một kỳ đài ở vùng biển hướng đông nam của nước Phong Đức. Trên kỳ đài này có một cây hoa thơm; thân cây rất sạch sẽ. Ở nơi đây có 500 Phạm Chí nữ đang phụng sự pháp ngoại đạo. Lòng của họ rất tinh tấn và chưa hề biết đến Phật.

於ư 時thời 諸chư 女nữ自tự 相tương 謂vị 曰viết
Một ngày nọ, các Phạm Chí nữ nói với nhau rằng:

我ngã 等đẳng 稟bẩm 形hình生sanh 為vi 女nữ 人nhân從tùng 少thiểu 至chí 老lão為vị 三tam 事sự 所sở 鑑giám不bất 得đắc 自tự 由do命mạng 又hựu 短đoản 促xúc形hình 如như 幻huyễn 化hóa當đương 復phục 死tử 亡vong不bất 如như 共cộng 至chí華hoa 香hương 臺đài 上thượng採thải 取thủ 香hương 華hoa精tinh 進tấn 持trì 齋trai降giáng 屈khuất 梵Phạm 天Thiên當đương 從tùng 求cầu 願nguyện願nguyện 生sanh 梵Phạm 天Thiên長trường 壽thọ 不bất 死tử又hựu 得đắc 自tự 在tại無vô 有hữu 鑑giám 忌kỵ離ly 諸chư 罪tội 對đối無vô 復phục 憂ưu 患hoạn
"Khi vừa lọt lòng, chị em chúng ta đã mang thân nữ. Từ trẻ đến già luôn bị nhiều việc cấm chế, không được tự do, và tuổi thọ lại ngắn ngủi. Thân này sẽ già yếu và rồi sẽ chết. Chẳng bằng như các chị em chúng ta hãy cùng đến kỳ đài kia, rồi hái hoa thơm để cúng dường, tinh tấn ăn chay trì giới, và thờ bái Phạm Thiên. Các chị em chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện để được sanh lên cõi Phạm Thiên. Như thế chúng ta sẽ được trường sanh bất tử, lại được tự tại, không có điều gì cấm chế, xa lìa các nghiệp tội, và chẳng còn ưu sầu hoạn nạn."

即tức 齎tê 供cúng 具cụ往vãng 至chí 臺đài 上thượng採thải 取thủ 華hoa 香hương奉phụng 事sự 梵Phạm 天Thiên一nhất 心tâm 持trì 齋trai願nguyện 屈khuất 尊tôn 神thần
Và thế là, họ mang những phẩm vật cúng dường và đi đến kỳ đài, rồi hái hoa thơm để dâng lên Phạm Thiên. Họ nhất tâm ăn chay trì giới và nguyện thờ bái tôn thần.

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn見kiến 此thử 諸chư 女nữ雖tuy 為vi 俗tục 齋trai其kỳ 心tâm 精tinh 進tấn應ưng 可khả 化hóa 度độ即tức 與dữ 大đại 眾chúng弟đệ 子tử 菩Bồ 薩Tát天thiên 龍long 鬼quỷ 神thần飛phi 昇thăng 虛hư 空không往vãng 至chí 臺đài 上thượng坐tọa 於ư 樹thụ 下hạ諸chư 女nữ 歡hoan 喜hỷ謂vị 是thị 梵Phạm 天Thiên
Khi Thế Tôn thấy các Phạm Chí nữ này, tuy là thọ trì trai giới của thế tục nhưng lòng họ rất tinh tấn. Ngài biết họ đáng được hóa độ nên liền dẫn các đệ tử, chư Bồ-tát, thiên long quỷ thần cùng đại chúng, rồi thăng lên hư không, bay đến kỳ đài, và ngồi dưới gốc cây. Lúc đó các Phạm Chí nữ rất vui mừng và cho rằng đó là vị Phạm Thiên.

自tự 相tương 慶khánh 慰úy
Họ mừng rỡ và bảo với nhau rằng:

得đắc 我ngã 所sở 願nguyện 矣hĩ
"Ước nguyện của chúng ta nay đã thành hiện thực."

時thời 一nhất 天thiên 人nhân語ngứ 諸chư 女nữ 言ngôn
Bấy giờ có một vị trời bảo các Phạm Chí nữ rằng:

此thử 非phi 梵Phạm 天Thiên是thị 三tam 界giới 尊tôn號hiệu 名danh 為vi 佛Phật度độ 人nhân 無vô 量lượng
"Ngài không phải là Phạm Thiên. Ngài là bậc tôn quý mà khắp ba cõi đều cung kính, hóa độ vô lượng chúng sanh, gọi là Đức Phật."

於ư 是thị 諸chư 女nữ前tiền 至chí 佛Phật 所sở為vì 佛Phật 作tác 禮lễ前tiền 白bạch 佛Phật 言ngôn
Các Phạm Chí nữ liền đến trước chỗ của Phật mà đảnh lễ, rồi thưa với Phật rằng:

我ngã 等đẳng 多đa 垢cấu今kim 為vi 女nữ 人nhân求cầu 離ly 鑑giám 撿kiểm願nguyện 生sanh 梵Phạm 天Thiên
"Xưa chúng con chắc tạo nhiều nghiệp bất tịnh nên giờ phải làm thân nữ. Nay chúng con mong muốn lìa xa những sự cấm chế và nguyện sanh lên cõi Phạm Thiên."

佛Phật 言ngôn
Đức Phật bảo:

諸chư 女nữ快khoái 得đắc 善thiện 利lợi乃nãi 發phát 此thử 願nguyện世thế 有hữu 二nhị 事sự其kỳ 報báo 明minh 審thẩm為vi 善thiện 受thọ 福phước為vi 惡ác 受thọ 殃ương世thế 間gian 之chi 苦khổ天thiên 上thượng 之chi 樂lạc有hữu 為vi 之chi 煩phiền無vô 為vi 之chi 寂tịch誰thùy 能năng 選tuyển 擇trạch取thủ 其kỳ 真chân 者giả
"Các thiện nữ nhân! Các con vì muốn được lợi ích lành nên mới phát nguyện đó. Trên đời có hai việc mà quả báo của nó rất rõ ràng: làm thiện hưởng phước lành, làm ác gặp tai ương. Thế gian khổ ách, cõi trời an vui. Hữu vi phiền não, vô vi tịch diệt. Ai có thể tuyển lựa để lấy sự chân thật đó?

善thiện 哉tai 諸chư 女nữ乃nãi 有hữu 明minh 志chí
Lành thay, các thiện nữ nhân! Các con có trí tuệ nên mới khéo lựa chọn như thế."

於ư 是thị 世Thế 尊Tôn即tức 說thuyết 偈kệ 言ngôn
Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

孰thục 能năng 擇trạch 地địa
捨xả 鑑giám 取thủ 天thiên
誰thùy 說thuyết 法Pháp 句cú
如như 擇trạch 善thiện 華hoa

"Ai khéo lựa nơi xứ
Lìa đường ác sanh thiên?
Ai khéo giảng Pháp nghĩa
Như khéo hái hoa xinh?

學học 者giả 擇trạch 地địa
捨xả 鑑giám 取thủ 天thiên
善thiện 說thuyết 法Pháp 句cú
能năng 採thải 德đức 華hoa

Học nhân khéo lựa nơi
Lìa đường ác sanh thiên
Khéo giảng diệu Pháp nghĩa
Khéo hái hoa công đức

知tri 世thế 坏phôi 喻dụ
幻huyễn 法pháp 忽hốt 有hữu
斷đoạn 魔ma 華hoa 敷phu
不bất 現hiện 死tử 生sanh

Quán thân như sành gốm
Huyễn hóa như ảo ảnh
Chặt đứt nụ hoa ma
Không đọa vòng sanh tử

見kiến 身thân 如như 沫mạt
幻huyễn 法pháp 自tự 然nhiên
斷đoạn 魔ma 華hoa 敷phu
不bất 現hiện 死tử 生sanh

Thấy thân như bọt nước
Biết đó là huyễn hóa
Chặt đứt nụ hoa ma
Không đọa vòng sanh tử"

於ư 是thị 諸chư 女nữ聞văn 佛Phật 此thử 偈kệ願nguyện 學học 真chân 道Đạo為vi 比Bỉ 丘Khâu 尼Ni頭đầu 髮phát 自tự 墮đọa法Pháp 衣y 具cụ 足túc思tư 惟duy 寂tịch 定định即tức 得đắc 羅La 漢Hán 道Đạo
Khi nghe những bài kệ của Đức Phật, các Phạm Chí nữ nguyện học theo Chánh Đạo và xin làm Bhikṣuṇī. Lúc đó, tóc trên đầu của họ tự rụng, Pháp y khoác trên thân. Sau đó, họ tĩnh lặng tư duy thiền định và liền đắc Đạo Ứng Chân.

阿A 難Nan 白bạch 佛Phật 言ngôn
Bấy giờ ngài Khánh Hỷ bạch Phật rằng:

今kim 此thử 諸chư 女nữ素tố 有hữu 何hà 德đức乃nãi 令linh 世Thế 尊Tôn就tựu 而nhi 度độ 之chi一nhất 聞văn 說thuyết 法Pháp出xuất 家gia 得đắc 道Đạo 也dã
"[Bạch Thế Tôn!] Thuở xưa các Phạm Chí nữ này đã gieo trồng căn lành gì mà nay được Thế Tôn đến hóa độ, rồi chỉ một lần nghe Pháp, họ liền xuất gia và đắc Đạo?"

佛Phật 告cáo 阿A 難Nan
Phật bảo ngài Khánh Hỷ:

昔tích 迦Ca 葉Diếp 佛Phật時thời 有hữu 大đại 長trưởng 者giả財tài 富phú 無vô 數số夫phu 人nhân 婇thể 女nữ有hữu 五ngũ 百bách 人nhân其kỳ 性tánh 妬đố 惡ác門môn 不bất 妄vọng 開khai夫phu 人nhân 婇thể 女nữ欲dục 往vãng 見kiến 佛Phật終chung 不bất 肯khẳng 聽thính後hậu 日nhật 國quốc 王vương請thỉnh 諸chư 大đại 臣thần上thượng 殿điện 宴yến 會hội會hội 輒triếp 竟cánh 日nhật
"Vào thời giáo hóa của Đức Phật Ẩm Quang thuở xưa, bấy giờ có một đại trưởng giả giàu sang vô cùng. Ông có nhiều phu nhân và thể nữ, 500 người cả thảy. Tuy nhiên, bản tánh của ông đố kỵ, xấu ác và không cho họ ra khỏi cửa. Các phu nhân và thể nữ rất muốn đến diện kiến Đức Phật nhưng ông luôn luôn không cho phép. Về sau có một ngày, vị vua của nước đó triệu tập các đại thần và thiết yến tiệc ở trên đại điện đến trọn cả ngày.

時thời 夫phu 人nhân 婇thể 女nữ見kiến 長trưởng 者giả 入nhập 會hội便tiện 共cộng 至chí 佛Phật 所sở稽khể 首thủ 作tác 禮lễ小tiểu 坐tọa 聽thính 經Kinh
Nhân cơ hội ông trưởng giả vào cung dự yến tiệc, các phu nhân và thể nữ liền cùng đến chỗ của Phật, rồi cúi đầu đảnh lễ và ngồi xuống nghe Kinh.

各các 發phát 願nguyện 言ngôn
Sau đó mỗi người họ phát nguyện rằng:

令linh 我ngã 世thế 世thế莫mạc 與dữ 惡ác 人nhân共cộng 相tương 遭tao 遇ngộ所sở 生sanh 之chi 處xứ恆hằng 與dữ 道Đạo 德đức聖thánh 人nhân 相tương 值trị聞văn 來lai 世thế 有hữu 佛Phật名danh 釋Thích 迦Ca 文Văn願nguyện 與dữ 相tương 值trị出xuất 家gia 學học 道Đạo奉phụng 持trì 訓huấn 誨hối
'Nguyện con đời đời sẽ không gặp kẻ ác. Ở mọi nơi sanh ra, con sẽ luôn gặp thánh nhân và biết Chánh Đạo. Con nghe Như Lai nói ở vào đời vị lai sẽ có một Đức Phật xuất hiện ở thế gian, hiệu là Năng Nhân Tịch Tĩnh. Con nguyện sẽ gặp Ngài, xuất gia học Đạo, và phụng trì lời dạy.'"

佛Phật 語ngứ 阿A 難Nan
Phật bảo ngài Khánh Hỷ:

爾nhĩ 時thời 夫phu 人nhân 婇thể 女nữ五ngũ 百bách 人nhân 者giả今kim 此thử 五ngũ 百bách 比Bỉ 丘Khâu 尼Ni 是thị本bổn 願nguyện 懇khẩn 惻trắc今kim 應ưng 得đắc 度độ是thị 以dĩ 世Thế 尊Tôn就tựu 度độ 之chi 耳nhĩ
"Các phu nhân và thể nữ thuở đó--500 người cả thảy, nay chính là 500 vị Bhikṣuṇī đây vậy. Do bởi bổn nguyện khẩn thiết và chí thành, nên nay họ đặc biệt được Thế Tôn đến hóa độ vậy."

佛Phật 說thuyết 是thị 時thời莫mạc 不bất 歡hoan 喜hỷ
Khi Phật nói lời ấy xong, không ai là chẳng hoan hỷ.

法Pháp 句Cú 譬Thí 喻Dụ 經Kinh 卷quyển 第đệ 一nhất
Kinh Pháp Cú Thí Dụ ♦ Hết quyển 1

晉Tấn 世Thế 法Pháp 師sư 法Pháp 炬Cự 共cộng 法Pháp 立Lập 譯dịch
Dịch sang cổ văn: Pháp sư Pháp Cự và Pháp sư Pháp Lập ở Thế Kỷ 4
Dịch sang tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận
Phiên âm và chấm câu: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận
Phiên âm: 9/5/2014 ◊ Dịch nghĩa: 27/9/2015 ◊ Cập nhật: 2/3/2019

Cách đọc âm tiếng Phạn

Bhikṣu: bíc su
Bhikṣuṇī: bíc su ni
Virādha: vi ra đa
Pukkaśati: búc ca sa ti
Đang dùng phương ngữ: BắcNam