大Đại 佛Phật 頂Đảnh 如Như 來Lai 密Mật 因Nhân 修Tu 證Chứng 了Liễu 義Nghĩa 諸Chư 菩Bồ 薩Tát 萬Vạn 行Hạnh 首Thủ 楞Lăng 嚴Nghiêm 經Kinh 卷quyển 第đệ 六lục
Kinh Đại Phật Đảnh Cứu Cánh Kiên Cố và Mật Nhân của Như Lai về Chư Bồ-tát Vạn Hạnh để Tu Chứng Liễu Nghĩa ♦ Quyển 6

爾nhĩ 時thời 觀Quán 世Thế 音Âm 菩Bồ 薩Tát即tức 從tùng 座tòa 起khởi頂đảnh 禮lễ 佛Phật 足túc而nhi 白bạch 佛Phật 言ngôn
[25] Bấy giờ Quán Thế Âm Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật và thưa với Phật rằng:

世Thế 尊Tôn憶ức 念niệm 我ngã 昔tích無vô 數số 恆Hằng 河Hà 沙sa 劫kiếp於ư 時thời 有hữu 佛Phật出xuất 現hiện 於ư 世thế名danh 觀Quán 世Thế 音Âm我ngã 於ư 彼bỉ 佛Phật發phát 菩Bồ 提Đề 心tâm彼bỉ 佛Phật 教giáo 我ngã從tùng 聞văn 思tư 修tu入nhập 三tam 摩ma 地địa
"Thưa Thế Tôn! Con nhớ thuở xưa vô số Hằng Hà sa kiếp, đương thời có Đức Phật xuất hiện ở thế gian, hiệu là Quán Thế Âm. Và ở trước Đức Phật kia, con đã phát khởi Đạo tâm. Đức Phật kia đã dạy con vào chánh định qua sự tu hành của lắng nghe và tư duy.

初sơ 於ư 聞văn 中trung入nhập 流lưu 亡vong 所sở所sở 入nhập 既ký 寂tịch動động 靜tĩnh 二nhị 相tướng了liễu 然nhiên 不bất 生sanh如như 是thị 漸tiệm 增tăng聞văn 所sở 聞văn 盡tận盡tận 聞văn 不bất 住trụ覺giác 所sở 覺giác 空không空không 覺giác 極cực 圓viên空không 所sở 空không 滅diệt生sanh 滅diệt 既ký 滅diệt寂tịch 滅diệt 現hiện 前tiền
Trước tiên con chuyển thính giác hướng vào trong để vào dòng thánh và như thế âm thanh bên ngoài sẽ tiêu vong. Một khi sự lắng nghe hướng vào trong và âm thanh đã lặng yên, cả hai tướng--tiếng động và yên tĩnh--đều hoàn toàn chẳng sanh. Và khi dần dần tăng tiến như thế, những gì con nghe và sự nhận biết của những gì đã nghe đều chấm dứt. Một khi sự lắng nghe đó chấm dứt thì không còn gì để trụ nương. Sự nhận biết và vật của nhận biết trở thành rỗng không. Khi làm cho rỗng không của nhận biết đạt đến viên mãn cực độ, thì sự rỗng không đó và những gì đã rỗng không đều tan biến. Khi sanh diệt diệt rồi, tịch diệt sẽ hiện tiền.

忽hốt 然nhiên 超siêu 越việt世thế 出xuất 世thế 間gian十thập 方phương 圓viên 明minh獲hoạch 二nhị 殊thù 勝thắng
Hốt nhiên con siêu việt thế gian và xuất thế gian. Mọi thứ ở mười phương được chiếu sáng tròn đầy, và con được hai điều thù thắng.

一nhất 者giả 上thượng 合hợp十thập 方phương 諸chư 佛Phật本bổn 妙diệu 覺giác 心tâm與dữ 佛Phật 如Như 來Lai同đồng 一nhất 慈từ 力lực
1. Tâm con thăng lên để hợp nhất với bổn giác diệu tâm của mười phương chư Phật, và sức từ bi của con đồng nhất với chư Phật Như Lai.

二nhị 者giả 下hạ 合hợp十thập 方phương 一nhất 切thiết六lục 道đạo 眾chúng 生sanh與dữ 諸chư 眾chúng 生sanh同đồng 一nhất 悲bi 仰ngưỡng
2. Tâm con hạ xuống để hợp nhất với tất cả chúng sanh trong sáu đường ở khắp mười phương, và con có thể cảm nhận nỗi ưu bi và ước nguyện của các chúng sanh giống như của mình.

世Thế 尊Tôn由do 我ngã 供cúng 養dường觀Quán 音Âm 如Như 來Lai蒙mông 彼bỉ 如Như 來Lai授thọ 我ngã 如như 幻huyễn聞văn 熏huân 聞văn 修tu金Kim 剛Cang 三Tam 昧Muội與dữ 佛Phật 如Như 來Lai同đồng 慈từ 力lực 故cố令linh 我ngã 身thân 成thành三tam 十thập 二nhị 應ứng入nhập 諸chư 國quốc 土độ
Thưa Thế Tôn! Do đã cúng dường Quán Thế Âm Như Lai và nhờ hồng ân của Như Lai kia đã truyền thọ cho con Kim Cang Chánh Định như huyễn qua sự tu hành của lắng nghe và tư duy, nên sức từ bi của con đồng nhất với chư Phật Như Lai. Do đó con có thể hiện ra 32 ứng thân để vào các quốc độ.

世Thế 尊Tôn若nhược 諸chư 菩Bồ 薩Tát入nhập 三tam 摩ma 地địa進tiến 修tu 無vô 漏lậu勝thắng 解giải 現hiện 圓viên我ngã 現hiện 佛Phật 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 解giải 脫thoát
[1] Thưa Thế Tôn! Giả sử có những vị Bồ-tát nào đã vào chánh định, tu hành tăng tiến, và được vô lậu. Nếu họ muốn chứng đắc thắng giải hiện tiền viên mãn, con sẽ hiện ra thân Phật mà thuyết Pháp và chỉ dẫn họ đến giải thoát.

若nhược 諸chư 有Hữu 學Học寂tịch 靜tĩnh 妙diệu 明minh勝thắng 妙diệu 現hiện 圓viên我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 獨Độc 覺Giác 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 解giải 脫thoát
[2] Giả sử có những vị thuộc hàng Hữu Học nào với tâm tịch tĩnh diệu minh. Nếu họ muốn chứng đắc thắng diệu hiện tiền viên mãn, con sẽ hiện ra thân Độc Giác mà thuyết Pháp và chỉ dẫn họ đến giải thoát.

若nhược 諸chư 有Hữu 學Học斷đoạn 十Thập 二Nhị 緣Duyên緣duyên 斷đoạn 勝thắng 性tánh勝thắng 妙diệu 現hiện 圓viên我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 緣Duyên 覺Giác 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 解giải 脫thoát
[3] Giả sử có những vị thuộc hàng Hữu Học nào đã đoạn trừ 12 Duyên Khởi và do nhân duyên đã đoạn nên được tánh thù thắng. Nếu họ muốn chứng đắc thắng diệu hiện tiền viên mãn, con sẽ hiện ra thân Duyên Giác mà thuyết Pháp và chỉ dẫn họ đến giải thoát.

若nhược 諸chư 有Hữu 學Học得đắc 四Tứ 諦Đế 空không修tu 道Đạo 入nhập 滅diệt勝thắng 性tánh 現hiện 圓viên我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 聲Thanh 聞Văn 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 解giải 脫thoát
[4] Giả sử có những vị thuộc hàng Hữu Học nào đã được tâm không, khế hợp với Bốn Thánh Đế và đang tu Đạo để đạt đến tịch diệt. Nếu họ muốn chứng đắc thắng tánh hiện tiền viên mãn, con sẽ hiện ra thân Thanh Văn mà thuyết Pháp và chỉ dẫn họ đến giải thoát.

若nhược 諸chư 眾chúng 生sanh欲dục 心tâm 明minh 悟ngộ不bất 犯phạm 欲dục 塵trần欲dục 身thân 清thanh 淨tịnh我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 梵Phạm 王Vương 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 解giải 脫thoát
[5] Giả sử có những chúng sanh nào đã hiểu rõ lòng tham muốn, không còn vướng mắc ái dục của hồng trần, và muốn thân thanh tịnh, con sẽ hiện ra thân Phạm Vương mà thuyết Pháp và chỉ dẫn họ đến giải thoát.

若nhược 諸chư 眾chúng 生sanh欲dục 為vi 天thiên 主chủ統thống 領lãnh 諸chư 天thiên我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 帝Đế 釋Thích 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[6] Giả sử có những chúng sanh nào muốn làm thiên chủ để thống lãnh chư thiên, con sẽ hiện ra thân Năng Thiên Đế mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 諸chư 眾chúng 生sanh欲dục 身thân 自tự 在tại遊du 行hành 十thập 方phương我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 自Tự 在Tại 天Thiên 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[7] Giả sử có những chúng sanh nào muốn được thân tự tại để du hành khắp mười phương, con sẽ hiện ra thân Tự Tại Thiên mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 諸chư 眾chúng 生sanh欲dục 身thân 自tự 在tại飛phi 行hành 虛hư 空không我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 大Đại 自Tự 在Tại 天Thiên 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[8] Giả sử có những chúng sanh nào muốn được thân tự tại để phi hành hư không, con sẽ hiện ra thân Đại Tự Tại Thiên mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 諸chư 眾chúng 生sanh愛ái 統thống 鬼quỷ 神thần救cứu 護hộ 國quốc 土thổ我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 天thiên 大đại 將tướng 軍quân 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[9] Giả sử có những chúng sanh nào thích thống lãnh quỷ thần để cứu hộ quốc thổ, con sẽ hiện ra thân thiên đại tướng quân mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 諸chư 眾chúng 生sanh愛ái 統thống 世thế 界giới保bảo 護hộ 眾chúng 生sanh我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 四Tứ 天Thiên 王Vương 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[10] Giả sử có những chúng sanh nào thích thống lãnh thế giới để bảo hộ chúng sanh, con sẽ hiện ra thân của một trong Bốn Vị Thiên Vương mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 諸chư 眾chúng 生sanh愛ái 生sanh 天thiên 宮cung驅khu 使sử 鬼quỷ 神thần我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 四Tứ 天Thiên 王Vương國quốc 太thái 子tử 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[11] Giả sử có những chúng sanh nào thích sanh về thiên cung để sai khiến quỷ thần, con sẽ hiện ra thân thái tử của một trong Bốn Vị Thiên Vương mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 諸chư 眾chúng 生sanh樂nhạo 為vi 人nhân 王vương我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 人nhân 王vương 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[12] Giả sử có những chúng sanh nào thích làm vua ở nhân gian, con sẽ hiện ra thân vua mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 諸chư 眾chúng 生sanh愛ái 主chủ 族tộc 姓tánh世thế 間gian 推thôi 讓nhượng我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 長trưởng 者giả 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[13] Giả sử có những chúng sanh nào thích làm chủ dòng tộc để người thế gian kính nể, con sẽ hiện ra thân trưởng giả mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 諸chư 眾chúng 生sanh愛ái 談đàm 名danh 言ngôn清thanh 淨tịnh 自tự 居cư我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 居cư 士sĩ 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[14] Giả sử có những chúng sanh nào thích đàm luận văn chương và sống đời trong sạch, con sẽ hiện ra thân cư sĩ mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 諸chư 眾chúng 生sanh愛ái 治trị 國quốc 土thổ剖phẫu 斷đoán 邦bang 邑ấp我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 宰tể 官quan 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[15] Giả sử có những chúng sanh nào thích quản lý quốc gia hoặc quyết định sự việc của tỉnh hay huyện, con sẽ hiện ra thân tể quan mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 諸chư 眾chúng 生sanh愛ái 諸chư 數số 術thuật攝nhiếp 衛vệ 自tự 居cư我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 婆Bà 羅La 門Môn 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[16] Giả sử có những chúng sanh nào thích toán số và những kỳ thuật khác để bảo vệ cho cuộc sống chính mình, con sẽ hiện ra thân Phạm Chí mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 有hữu 男nam 子tử好hiếu 學học 出xuất 家gia持trì 諸chư 戒giới 律luật我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 比Bỉ 丘Khâu 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[17] Giả sử có người nam nào thích học trở thành Bhikṣu [bíc su] và thọ trì các giới luật, con sẽ hiện ra thân Bhikṣu mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 有hữu 女nữ 人nhân好hiếu 學học 出xuất 家gia持trì 諸chư 禁cấm 戒giới我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 比Bỉ 丘Khâu 尼Ni 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[18] Giả sử có người nữ nào thích học trở thành Bhikṣuṇī [bíc su ni] và gìn giữ các giới cấm, con sẽ hiện ra thân Bhikṣuṇī mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 有hữu 男nam 子tử樂nhạo 持trì 五Ngũ 戒Giới我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 優Ưu 婆Bà 塞Tắc 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[19] Giả sử có người nam nào thích giữ Năm Giới, con sẽ hiện ra thân Thanh Tín Nam mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 有hữu 女nữ 子tử五Ngũ 戒Giới 自tự 居cư我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 優Ưu 婆Bà 夷Di 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[20] Giả sử có người nữ nào thích giữ Năm Giới, con sẽ hiện ra thân Thanh Tín Nữ mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 有hữu 女nữ 人nhân內nội 政chánh 立lập 身thân以dĩ 修tu 家gia 國quốc我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 女nữ 主chủ 身thân及cập 國quốc 夫phu 人nhân命mạng 婦phụ 大đại 家gia而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[21] Giả sử có người nữ nào thích quản lý hậu cung hoặc chuyện của gia tộc, con sẽ hiện ra thân vương hậu, công nương, hay đại phu nhân mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 有hữu 眾chúng 生sanh不bất 壞hoại 男nam 根căn我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 童đồng 男nam 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[22] Giả sử có những bé trai nào muốn giữ thân đồng tử vĩnh viễn, con sẽ hiện ra thân đồng nam mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 有hữu 處xử 女nữ愛ái 樂nhạo 處xử 身thân不bất 求cầu 侵xâm 暴bạo我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 童đồng 女nữ 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[23] Giả sử có những bé gái nào muốn giữ thân trinh nữ vĩnh viễn và không muốn thân thể xâm phạm, con sẽ hiện ra thân đồng nữ mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 有hữu 諸chư 天thiên樂nhạo 出xuất 天thiên 倫luân我ngã 現hiện 天thiên 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[24] Giả sử có vị trời nào muốn thoát khỏi cảnh trời, con sẽ hiện ra thân trời mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 有hữu 諸chư 龍long樂nhạo 出xuất 龍long 倫luân我ngã 現hiện 龍long 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[25] Giả sử có loài rồng nào muốn thoát khỏi loài rồng, con sẽ hiện ra thân rồng mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 有hữu 藥dược 叉xoa樂nhạo 度độ 本bổn 倫luân我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 藥dược 叉xoa 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[26] Giả sử có quỷ tiệp tật nào muốn thoát khỏi loài quỷ tiệp tật, con sẽ hiện ra thân quỷ tiệp tật mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 乾càn 闥thát 婆bà樂nhạo 脫thoát 其kỳ 倫luân我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 乾càn 闥thát 婆bà 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[27] Giả sử có tầm hương thần nào muốn thoát khỏi loài tầm hương thần, con sẽ hiện ra thân tầm hương thần mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 阿a 修tu 羅la樂nhạo 脫thoát 其kỳ 倫luân我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 阿a 修tu 羅la 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[28] Giả sử có phi thiên nào muốn thoát khỏi loài phi thiên, con sẽ hiện ra thân phi thiên mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 緊khẩn 那na 羅la樂nhạo 脫thoát 其kỳ 倫luân我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 緊khẩn 那na 羅la 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[29] Giả sử có nghi thần nào muốn thoát khỏi loài nghi thần, con sẽ hiện ra thân nghi thần mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 摩ma 呼hô 羅la 伽già樂nhạo 脫thoát 其kỳ 倫luân我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền現hiện 摩ma 呼hô 羅la 伽già 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[30] Giả sử có đại mãng xà nào muốn thoát khỏi loài đại mãng xà, con sẽ hiện ra thân đại mãng xà mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 諸chư 眾chúng 生sanh樂nhạo 人nhân 修tu 人nhân我ngã 現hiện 人nhân 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[31] Giả sử có những chúng sanh nào vẫn yêu thích làm người, con sẽ hiện ra thân người mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

若nhược 諸chư 非phi 人nhân有hữu 形hình 無vô 形hình有hữu 想tưởng 無vô 想tưởng樂nhạo 脫thoát 其kỳ 倫luân我ngã 於ư 彼bỉ 前tiền皆giai 現hiện 其kỳ 身thân而nhi 為vi 說thuyết 法Pháp令linh 其kỳ 成thành 就tựu
[32] Giả sử có những phi nhân nào--có hình tướng hay không hình tướng, có tưởng hay vô tưởng--muốn thoát khỏi loài phi nhân, con sẽ hiện ra thân phi nhân mà thuyết Pháp và khiến họ thành tựu.

是thị 名danh 妙diệu 淨tịnh三tam 十thập 二nhị 應ứng入nhập 國quốc 土độ 身thân皆giai 以dĩ 三tam 昧muội聞văn 熏huân 聞văn 修tu無vô 作tác 妙diệu 力lực自tự 在tại 成thành 就tựu
Đây là 32 ứng thân vi diệu thanh tịnh để vào các quốc độ. Tất cả đều từ năng lực vi diệu vô tác của chánh định qua sự tu hành của lắng nghe và tư duy mà được thành tựu tự tại.

世Thế 尊Tôn我ngã 復phục 以dĩ 此thử聞văn 熏huân 聞văn 修tu金Kim 剛Cang 三Tam 昧Muội無vô 作tác 妙diệu 力lực與dữ 諸chư 十thập 方phương三tam 世thế 六lục 道đạo一nhất 切thiết 眾chúng 生sanh同đồng 悲bi 仰ngưỡng 故cố令linh 諸chư 眾chúng 生sanh於ư 我ngã 身thân 心tâm獲hoạch 十thập 四tứ 種chủng無vô 畏úy 功công 德đức
Thưa Thế Tôn! Lại với năng lực vi diệu vô tác của Kim Cang Chánh Định qua sự tu hành của lắng nghe và tư duy, con có thể cảm nhận giống như của mình về nỗi ưu bi và ước nguyện của tất cả chúng sanh trong sáu đường ở ba đời mười phương. Cho nên với sự kết hợp của thân và tâm, con có thể làm cho các chúng sanh được công đức của 14 loại vô úy.

一nhất 者giả 由do 我ngã不bất 自tự 觀quán 音âm以dĩ 觀quán 觀quán 者giả令linh 彼bỉ 十thập 方phương苦khổ 惱não 眾chúng 生sanh觀quán 其kỳ 音âm 聲thanh即tức 得đắc 解giải 脫thoát
1. Do con không nghe theo âm thanh, nhưng trái lại con quán sát âm thanh của người đó ở bên trong, nên con có thể nghe âm thanh của chúng sanh khổ não khắp mười phương và khiến họ liền được giải thoát.

二nhị 者giả知tri 見kiến 旋toàn 復phục令linh 諸chư 眾chúng 生sanh設thiết 入nhập 大đại 火hỏa火hỏa 不bất 能năng 燒thiêu
2. Do con đã xoay ngược và hồi phục tri kiến của mình, giả sử có những chúng sanh nào rơi vào trong lửa lớn, con có thể làm cho lửa chẳng thể đốt cháy họ.

三tam 者giả觀quán 聽thính 旋toàn 復phục令linh 諸chư 眾chúng 生sanh大đại 水thủy 所sở 漂phiêu水thủy 不bất 能năng 溺nịch
3. Do con đã xoay ngược và hồi phục tánh thấy nghe của mình, giả sử có những chúng sanh nào bị nước cuốn trôi, con có thể làm cho nước chẳng thể nhấn chìm họ.

四tứ 者giả斷đoạn 滅diệt 妄vọng 想tưởng心tâm 無vô 殺sát 害hại令linh 諸chư 眾chúng 生sanh入nhập 諸chư 鬼quỷ 國quốc鬼quỷ 不bất 能năng 害hại
4. Do con đã đoạn diệt vọng tưởng và không có tâm giết hại, giả sử có những chúng sanh nào lạc vào nước của quỷ, con có thể làm cho loài quỷ chẳng thể hại họ.

五ngũ 者giả熏huân 聞văn 成thành 聞văn六lục 根căn 銷tiêu 復phục同đồng 於ư 聲thanh 聽thính能năng 令linh 眾chúng 生sanh臨lâm 當đương 被bị 害hại刀đao 段đoạn 段đoạn 壞hoại使sử 其kỳ 兵binh 戈qua猶do 如như 割cát 水thủy亦diệc 如như 吹xuy 光quang性tánh 無vô 搖dao 動động
5. Do con đã thành tựu hợp nhất căn nghe với tánh giác của nghe, sáu căn hòa quyện và trở thành đồng nhất với căn nghe. Cho nên nếu có chúng sanh nào sắp bị hại, con có thể làm cho đao của người tấn công gãy từng đoạn. Binh khí của kẻ đó sẽ như chém vào nước, hoặc cũng như gió thổi vào tánh không dao động của ánh sáng.

六lục 者giả聞văn 熏huân 精tinh 明minh明minh 遍biến 法Pháp 界Giới則tắc 諸chư 幽u 暗ám性tánh 不bất 能năng 全toàn能năng 令linh 眾chúng 生sanh藥dược 叉xoa 羅la 剎sát鳩cưu 槃bàn 荼đồ 鬼quỷ及cập 毗tỳ 舍xá 遮già富phú 單đơn 那na 等đẳng雖tuy 近cận 其kỳ 旁bàng目mục 不bất 能năng 視thị
6. Do tánh nghe của con xông ướp với diệu minh tinh nguyên nên nó chiếu sáng khắp Pháp Giới và phá tan đen tối của mọi nơi u ám. Cho dù có những chúng sanh nào ở gần cạnh quỷ tiệp tật, quỷ bạo ác, quỷ úng hình, quỷ hút tinh khí, hay quỷ xú uế thì mắt của chúng vẫn không thể nhìn thấy.

七thất 者giả音âm 性tánh 圓viên 銷tiêu觀quán 聽thính 返phản 入nhập離ly 諸chư 塵trần 妄vọng能năng 令linh 眾chúng 生sanh禁cấm 繫hệ 枷già 鎖tỏa所sở 不bất 能năng 著trước
7. Do tánh của âm thanh tiêu tan hoàn toàn khi con chuyển ngược sự lắng nghe vào trong, nên con lìa hư vọng của các trần và có thể làm cho những chúng sanh đang chịu gông cùm xiềng xích không bị nó trói buộc.

八bát 者giả滅diệt 音âm 圓viên 聞văn遍biến 生sanh 慈từ 力lực能năng 令linh 眾chúng 生sanh經kinh 過quá 險hiểm 路lộ賊tặc 不bất 能năng 劫kiếp
8. Do âm thanh đã diệt mất và sự lắng nghe viên mãn, nên con được sức từ bi biến khắp và có thể làm cho những chúng sanh đang đi qua đường hiểm không bị giặc cướp bóc.

九cửu 者giả熏huân 聞văn 離ly 塵trần色sắc 所sở 不bất 劫kiếp能năng 令linh 一nhất 切thiết多đa 淫dâm 眾chúng 生sanh遠viễn 離ly 貪tham 欲dục
9. Do căn nghe của con hợp nhất với tánh giác của nghe, nên con lìa trần cấu và sắc tướng chẳng thể ức chế. Con có thể làm cho tất cả chúng sanh nhiều lòng dâm dục được rời xa tham dục.

十thập 者giả純thuần 音âm 無vô 塵trần根căn 境cảnh 圓viên 融dung無vô 對đối 所sở 對đối能năng 令linh 一nhất 切thiết忿phẫn 恨hận 眾chúng 生sanh離ly 諸chư 瞋sân 恚khuể
10. Do âm thanh thuần nhất rỗng không và chẳng chút trần cấu nên căn và cảnh viên dung, không có sự đối đãi hoặc có gì để đối đãi. Con có thể làm cho tất cả chúng sanh sân hận lìa khỏi sân hận.

十thập 一nhất 者giả銷tiêu 塵trần 旋toàn 明minh法Pháp 界Giới 身thân 心tâm猶do 如như 琉lưu 璃ly朗lãng 徹triệt 無vô 礙ngại能năng 令linh 一nhất 切thiết昏hôn 鈍độn 性tánh 障chướng諸chư 阿a 顛điên 迦ca永vĩnh 離ly 癡si 暗ám
11. Do trần cảnh tiêu vong và chuyển thành quang minh, Pháp Giới cùng thân tâm của con tựa như lưu ly trong suốt và không bị ngăn ngại. Con có thể làm cho tất cả chúng sanh với căn tánh ngu độn và tâm bất thiện vĩnh viễn lìa si ám.

十thập 二nhị 者giả融dung 形hình 復phục 聞văn不bất 動động 道Đạo 場Tràng涉thiệp 入nhập 世thế 間gian不bất 壞hoại 世thế 界giới能năng 遍biến 十thập 方phương供cúng 養dường 微vi 塵trần諸chư 佛Phật 如Như 來Lai各các 各các 佛Phật 邊biên為vi 法Pháp 王Vương 子Tử能năng 令linh 法Pháp 界Giới無vô 子tử 眾chúng 生sanh欲dục 求cầu 男nam 者giả誕đản 生sanh 福phước 德đức智trí 慧tuệ 之chi 男nam
12. Do hình sắc dung hòa và trở về tánh giác của nghe, con chẳng rời Đạo Tràng mà có thể vào thế gian và không hủy hoại tướng của thế giới. Con có thể cúng dường khắp chư Phật Như Lai ở mười phương nhiều như vi trần và làm Pháp Vương Tử ở bên cạnh của mỗi Đức Phật. Những chúng sanh nào không có con cái và cầu mong một bé trai, con có thể làm cho họ sanh được một bé trai với phước đức trí tuệ.

十thập 三tam 者giả六lục 根căn 圓viên 通thông明minh 照chiếu 無vô 二nhị含hàm 十thập 方phương 界giới立lập 大đại 圓viên 鏡kính空không 如Như 來Lai 藏tạng承thừa 順thuận 十thập 方phương微vi 塵trần 如Như 來Lai祕bí 密mật 法Pháp 門môn受thọ 領lãnh 無vô 失thất能năng 令linh 法Pháp 界Giới無vô 子tử 眾chúng 生sanh欲dục 求cầu 女nữ 者giả誕đản 生sanh 端đoan 正chánh福phước 德đức 柔nhu 順thuận眾chúng 人nhân 愛ái 敬kính有hữu 相tướng 之chi 女nữ
13. Do sáu căn viên thông với nhau và đồng thời chiếu sáng trùm khắp các thế giới trong mười phương, tâm con trở thành như một tấm gương tròn to lớn và phản chiếu tánh không của Như Lai tạng. Con phụng sự mười phương Như Lai nhiều như số vi trần và lãnh thọ Pháp môn bí mật của chư Phật mà chẳng hề quên mất. Những chúng sanh nào không có con cái ở khắp Pháp Giới và cầu mong một bé gái, con có thể làm cho họ sanh được một bé gái với tướng mạo đoan chánh, đầy đủ phước đức, tánh nết nhu hòa, và mọi người thương mến.

十thập 四tứ 者giả此thử 三Tam 千Thiên 大Đại 千Thiên 世Thế 界Giới百bách 億ức 日nhật 月nguyệt現hiện 住trụ 世thế 間gian諸chư 法Pháp 王Vương 子Tử有hữu 六lục 十thập 二nhị恆Hằng 河Hà 沙sa 數số修tu 法Pháp 垂thùy 範phạm教giáo 化hóa 眾chúng 生sanh隨tùy 順thuận 眾chúng 生sanh方phương 便tiện 智trí 慧tuệ各các 各các 不bất 同đồng由do 我ngã 所sở 得đắc圓viên 通thông 本bổn 根căn發phát 妙diệu 耳nhĩ 門môn然nhiên 後hậu 身thân 心tâm微vi 妙diệu 含hàm 容dung周chu 遍biến 法Pháp 界Giới能năng 令linh 眾chúng 生sanh持trì 我ngã 名danh 號hiệu與dữ 彼bỉ 共cộng 持trì六lục 十thập 二nhị 恆Hằng 河Hà 沙sa諸chư 法Pháp 王Vương 子Tử二nhị 人nhân 福phước 德đức正chánh 等đẳng 無vô 異dị
14. Ở Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới này có một tỷ mặt trời và mặt trăng, với các vị Pháp Vương Tử bằng số lượng của số cát trong 62 sông Hằng, hiện đang trụ ở thế gian để tu hành Phật Pháp, làm mô phạm cho hàng trời người, và giáo hóa chúng sanh. Các ngài tùy thuận chúng sanh với trí tuệ phương tiện của mình và mỗi vị đều chẳng giống nhau. Do con đã chứng đắc viên thông qua bổn căn, nên căn tai phát huy nhiệm mầu như một cánh cửa. Sau đó thân tâm của con trở nên vi diệu, bao hàm vạn vật, và trùm khắp Pháp Giới. Vì vậy những chúng sanh nào thọ trì danh hiệu của con, con có thể làm cho họ được phước đức như người thọ trì danh hiệu của các vị Pháp Vương Tử bằng số lượng của số cát trong 62 sông Hằng. Phước đức của hai người ấy bằng nhau không khác.

世Thế 尊Tôn我ngã 一nhất 名danh 號hiệu與dữ 彼bỉ 眾chúng 多đa名danh 號hiệu 無vô 異dị由do 我ngã 修tu 習tập得đắc 真chân 圓viên 通thông
Thưa Thế Tôn! Do sự tu tập của con đã đạt đến viên thông chân thật, nên phước đức của một danh hiệu con bằng phước đức của tất cả danh hiệu kia--không chút sai khác.

是thị 名danh 十thập 四tứ施thí 無vô 畏úy 力lực福phước 備bị 眾chúng 生sanh
Và như thế, con có thể làm cho chúng sanh được công đức từ uy lực của 14 loại vô úy.

世Thế 尊Tôn我ngã 又hựu 獲hoạch 是thị圓viên 通thông 修tu 證chứng無vô 上thượng 道Đạo 故cố又hựu 能năng 善thiện 獲hoạch四tứ 不bất 思tư 議nghị無vô 作tác 妙diệu 德đức
Lại nữa, thưa Thế Tôn! Do con chứng đắc viên thông và tu chứng Đạo vô thượng như thế, con lại khéo có thể đạt được bốn diệu đức chẳng thể nghĩ bàn của vô tác.

一nhất 者giả由do 我ngã 初sơ 獲hoạch妙diệu 妙diệu 聞văn 心tâm心tâm 精tinh 遺di 聞văn見kiến 聞văn 覺giác 知tri不bất 能năng 分phân 隔cách成thành 一nhất 圓viên 融dung清thanh 淨tịnh 寶bảo 覺giác故cố 我ngã 能năng 現hiện眾chúng 多đa 妙diệu 容dung能năng 說thuyết 無vô 邊biên祕bí 密mật 神thần 咒chú其kỳ 中trung 或hoặc 現hiện一nhất 首thủ三tam 首thủ五ngũ 首thủ七thất 首thủ九cửu 首thủ十thập 一nhất 首thủ如như 是thị 乃nãi 至chí一nhất 百bách 八bát 首thủ千thiên 首thủ萬vạn 首thủ八bát 萬vạn 四tứ 千thiên爍thước 迦ca 羅la 首thủ二nhị 臂tý四tứ 臂tý六lục 臂tý八bát 臂tý十thập 臂tý十thập 二nhị 臂tý十thập 四tứ十thập 六lục十thập 八bát二nhị 十thập至chí 二nhị 十thập 四tứ如như 是thị 乃nãi 至chí一nhất 百bách 八bát 臂tý千thiên 臂tý萬vạn 臂tý八bát 萬vạn 四tứ 千thiên母mẫu 多đa 羅la 臂tý二nhị 目mục三tam 目mục四tứ 目mục九cửu 目mục如như 是thị 乃nãi 至chí一nhất 百bách 八bát 目mục千thiên 目mục萬vạn 目mục八bát 萬vạn 四tứ 千thiên清thanh 淨tịnh 寶bảo 目mục或hoặc 慈từ 或hoặc 威uy或hoặc 定định 或hoặc 慧tuệ救cứu 護hộ 眾chúng 生sanh得đắc 大đại 自tự 在tại
1. Do con giác ngộ điều vi diệu trong vi diệu ở nơi tâm của lắng nghe, và một khi sự lắng nghe hòa quyện vào tâm tinh nguyên của con, thì sự lắng nghe của con đối với thấy, ngửi, nếm, chạm, và biết trở thành không thể phân biệt với nhau. Toàn bộ sáu công năng viên dung hợp nhất để trở thành một bảo giác thanh tịnh. Cho nên, con có thể hiện ra nhiều loại thân hình vi diệu và có thể tuyên thuyết vô biên thần chú bí mật. Hoặc con hiện ra với 1 đầu, 3 đầu, 5 đầu, 7 đầu, 9 đầu, 11 đầu, và như vậy cho đến 108 đầu, 1.000 đầu, 10.000 đầu, hay 84.000 đầu kiên cố bất hoại. Hoặc con hiện ra với 2 tay, 4 tay, 6 tay, 8 tay, 10 tay, 12 tay, 14 tay, 16 tay, 18 tay, 20 tay, 24 tay, và như vậy cho đến 108 tay, 1.000 tay, 10.000 tay, hay 84.000 tay đang bắt ấn. Trong những bàn tay của con hoặc có 2 mắt, 3 mắt, 4 mắt, 9 mắt, và như vậy cho đến 108 mắt, 1.000 mắt, 10.000 mắt, hay 84.000 mắt thanh tịnh báu. Hoặc hiện ra với từ bi, uy nghiêm, và định tuệ ở trong những thân hình đó, con có thể cứu hộ chúng sanh và làm cho họ được đại tự tại.

二nhị 者giả由do 我ngã 聞văn 思tư脫thoát 出xuất 六lục 塵trần如như 聲thanh 度độ 垣viên不bất 能năng 為vi 礙ngại故cố 我ngã 妙diệu 能năng現hiện 一nhất 一nhất 形hình誦tụng 一nhất 一nhất 咒chú其kỳ 形hình 其kỳ 咒chú能năng 以dĩ 無vô 畏úy施thí 諸chư 眾chúng 生sanh是thị 故cố 十thập 方phương微vi 塵trần 國quốc 土độ皆giai 名danh 我ngã 為vi施thí 無vô 畏úy 者giả
2. Do sự tu hành của lắng nghe và tư duy, con thoát ra khỏi sáu trần. Ví như âm thanh bị bức tường làm chướng ngại, nhưng giờ đây con không còn bị sáu trần làm chướng ngại nữa. Bởi vậy mà con có năng lực nhiệm mầu để hiện ra nhiều loại thân hình và tụng nhiều loại thần chú. Vì những thân hình cùng với thần chú đó có thể ban điều không sợ hãi cho các chúng sanh, cho nên hữu tình ở khắp vi trần quốc độ trong mười phương đều gọi con là bậc thí vô úy.

三tam 者giả由do 我ngã 修tu 習tập本bổn 妙diệu 圓viên 通thông清thanh 淨tịnh 本bổn 根căn所sở 遊du 世thế 界giới皆giai 令linh 眾chúng 生sanh捨xả 身thân 珍trân 寶bảo求cầu 我ngã 哀ai 愍mẫn
3. Do đạt đến viên thông từ sự tu tập căn bổn vi diệu, nên căn tai của con được thanh tịnh. Vì thế khi du hành qua bất kỳ thế giới nào, con đều làm cho chúng sanh có thể xả bỏ trân bảo và chẳng tiếc thân mạng để cầu mong con hãy thương xót cho họ.

四tứ 者giả我ngã 得đắc 佛Phật 心tâm證chứng 於ư 究cứu 竟cánh能năng 以dĩ 珍trân 寶bảo種chủng 種chủng 供cúng 養dường十thập 方phương 如Như 來Lai傍bàng 及cập 法Pháp 界Giới六lục 道đạo 眾chúng 生sanh求cầu 妻thê 得đắc 妻thê求cầu 子tử 得đắc 子tử求cầu 三tam 昧muội 得đắc 三tam 昧muội求cầu 長trường 壽thọ 得đắc 長trường 壽thọ如như 是thị 乃nãi 至chí求cầu 大đại 涅Niết 槃Bàn得đắc 大đại 涅Niết 槃Bàn
4. Do chứng ngộ cứu cánh và chứng đắc Phật tâm, con có thể dùng muôn loại trân bảo để cúng dường mười phương Như Lai, và cũng như bố thí cho chúng sanh trong sáu đường ở khắp Pháp Giới. Những ai cầu mong có vợ sẽ được vợ, cầu mong con cái sẽ được con cái, cầu mong chánh định sẽ được chánh định, cầu mong trường thọ sẽ được trường thọ, và như vậy cho đến cầu mong đại tịch diệt sẽ được đại tịch diệt.

佛Phật 問vấn 圓viên 通thông我ngã 從tùng 耳nhĩ 門môn圓Viên 照Chiếu 三Tam 昧Muội緣duyên 心tâm 自tự 在tại因nhân 入nhập 流lưu 相tướng得đắc 三tam 摩ma 地địa成thành 就tựu 菩Bồ 提Đề斯tư 為vi 第đệ 一nhất
Phật hỏi về viên thông. Từ cánh cửa của căn tai mà con đắc Viên Chiếu Chánh Định. Khi tâm duyên nơi cảnh vắng lặng nên con được tự tại. Rồi nhân bởi vào dòng chảy của bậc giác ngộ mà con đắc chánh định. Đây là phương pháp đệ nhất.

世Thế 尊Tôn彼bỉ 佛Phật 如Như 來Lai歎thán 我ngã 善thiện 得đắc圓viên 通thông 法Pháp 門môn於ư 大đại 會hội 中trung授thọ 記ký 我ngã 為vi觀Quán 世Thế 音Âm 號hiệu由do 我ngã 觀quán 聽thính十thập 方phương 圓viên 明minh故cố 觀Quán 音Âm 名danh遍biến 十thập 方phương 界giới
Thưa Thế Tôn! Thuở xưa Quán Thế Âm Như Lai đã ngợi khen con khéo dùng Pháp môn này để chứng đắc viên thông. Bấy giờ ở giữa đại chúng, Đức Phật kia đã thọ ký và đặt tên cho con là Quán Thế Âm. Do con có thể nghe thấu khắp mười phương với minh liễu viên dung, cho nên danh hiệu Quán Thế Âm của con cũng được biết khắp các thế giới trong mười phương."

爾nhĩ 時thời 世Thế 尊Tôn於ư 師sư 子tử 座tòa從tùng 其kỳ 五ngũ 體thể同đồng 放phóng 寶bảo 光quang遠viễn 灌quán 十thập 方phương微vi 塵trần 如Như 來Lai及cập 法Pháp 王Vương 子Tử諸chư 菩Bồ 薩Tát 頂đảnh彼bỉ 諸chư 如Như 來Lai亦diệc 於ư 五ngũ 體thể同đồng 放phóng 寶bảo 光quang從tùng 微vi 塵trần 方phương來lai 灌quán 佛Phật 頂đảnh並tịnh 灌quán 會hội 中trung諸chư 大đại 菩Bồ 薩Tát及cập 阿A 羅La 漢Hán林lâm 木mộc 池trì 沼chiểu皆giai 演diễn 法Pháp 音âm交giao 光quang 相tương 羅la如như 寶bảo 絲ti 網võng
Bấy giờ ở trên tòa sư tử, Thế Tôn đồng một lúc phóng ra quang minh báu từ hai tay, hai chân, và trên trán. Ánh sáng đó chiếu rất xa để rót vào đỉnh đầu chư Như Lai cùng những vị Pháp Vương Tử Bồ-tát và số lượng đó nhiều như vi trần trong mười phương. Chư Như Lai kia cũng đồng một lúc phóng ra quang minh báu từ hai tay, hai chân, và trên trán. Những ánh sáng đó nhiều như vi trần từ khắp mười phương đến để rót vào đỉnh đầu của Đức Phật cùng chư đại Bồ-tát và những vị Ứng Chân ở trong Pháp hội. Khắp rừng cây và ao hồ đều vang Pháp âm. Các luồng ánh sáng hòa quyện như những dây tơ của lưới giăng báu.

是thị 諸chư 大đại 眾chúng得đắc 未vị 曾tằng 有hữu一nhất 切thiết 普phổ 獲hoạch金Kim 剛Cang 三Tam 昧Muội即tức 時thời 天thiên 雨vũ百bách 寶bảo 蓮liên 華hoa青thanh 黃hoàng 赤xích 白bạch間gian 錯thác 紛phân 糅nhữu十thập 方phương 虛hư 空không成thành 七thất 寶bảo 色sắc此thử 娑Sa 婆Bà 界Giới大đại 地địa 山sơn 河hà俱câu 時thời 不bất 現hiện唯duy 見kiến 十thập 方phương微vi 塵trần 國quốc 土độ合hợp 成thành 一nhất 界giới梵Phạm 唄bối 詠vịnh 歌ca自tự 然nhiên 敷phu 奏tấu
Khi ấy toàn thể đại chúng thấy được việc chưa từng có và tất cả đều đắc Kim Cang Chánh Định. Tiếp đến, trời mưa hoa sen trăm báu với màu xanh, vàng, đỏ, trắng và chúng xen kẽ rơi xuống. Hư không khắp mười phương trở thành màu sắc của bảy báu. Sông núi đất đai của Thế giới Kham Nhẫn đồng thời biến mất. Duy chỉ thấy mười phương vi trần quốc độ hợp thành một thế giới và tiếng ca vịnh thanh tịnh tự nhiên trỗi lên.




於ư 是thị 如Như 來Lai告cáo 文Văn 殊Thù 師Sư 利Lợi 法Pháp 王Vương 子Tử
Bấy giờ Như Lai bảo Diệu Cát Tường Pháp Vương Tử:

汝nhữ 今kim 觀quán 此thử二nhị 十thập 五ngũ 無Vô 學Học諸chư 大đại 菩Bồ 薩Tát及cập 阿A 羅La 漢Hán各các 說thuyết 最tối 初sơ成thành 道Đạo 方phương 便tiện皆giai 言ngôn 修tu 習tập真chân 實thật 圓viên 通thông彼bỉ 等đẳng 修tu 行hành實thật 無vô 優ưu 劣liệt前tiền 後hậu 差sai 別biệt我ngã 今kim 欲dục 令linh阿A 難Nan 開khai 悟ngộ二nhị 十thập 五ngũ 行hành誰thùy 當đương 其kỳ 根căn兼kiêm 我ngã 滅diệt 後hậu此thử 界giới 眾chúng 生sanh入nhập 菩Bồ 薩Tát 乘Thừa求cầu 無vô 上thượng 道Đạo何hà 方phương 便tiện 門môn得đắc 易dị 成thành 就tựu
"Ông nay hãy quán sát những gì vừa nói của 25 vị thánh, gồm có chư đại Bồ-tát và các vị Ứng Chân đã đạt đến bậc Vô Học, về phương pháp mà họ bước lên Chánh Đạo lúc tối sơ. Ai nấy đều nói rằng phương pháp tu tập để đạt đến viên thông của mình là đệ nhất. Tuy những phương pháp đã nói ở trước và sau có sai khác, nhưng sự thật thì không có cái nào là ưu việt hay hạ liệt. Nhưng bây giờ Ta muốn chỉ dạy Khánh Hỷ đạt đến khai ngộ, thế thì phương pháp nào trong 25 vị thánh là phù hợp với căn cơ của ông ấy? Và sau khi Ta diệt độ, phương pháp nào sẽ dẫn chúng sanh của thế giới này vào Bồ-tát Thừa để cầu Đạo vô thượng? Môn phương tiện nào sẽ giúp họ dễ được thành tựu?"

文Văn 殊Thù 師Sư 利Lợi 法Pháp 王Vương 子Tử奉phụng 佛Phật 慈từ 旨chỉ即tức 從tùng 座tòa 起khởi頂đảnh 禮lễ 佛Phật 足túc承thừa 佛Phật 威uy 神thần說thuyết 偈kệ 對đối 佛Phật
Khi đã lãnh thọ thánh chỉ từ bi của Như Lai, Diệu Cát Tường Pháp Vương Tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật, rồi nương uy thần của Phật và nói kệ đáp rằng:

覺giác 海hải 性tánh 澄trừng 圓viên
圓viên 澄trừng 覺giác 元nguyên 妙diệu
元nguyên 明minh 照chiếu 生sanh 所sở
所sở 立lập 照chiếu 性tánh 亡vong

"Tánh của biển giác lắng trong viên
Viên mãn lắng trong giác nguyên diệu
Nhận biết vừa khởi cảnh hiện ra
Khi cảnh thành lập bổn giác vong

迷mê 妄vọng 有hữu 虛hư 空không
依y 空không 立lập 世thế 界giới
想tưởng 澄trừng 成thành 國quốc 土độ
知tri 覺giác 乃nãi 眾chúng 生sanh

Rồi từ mê vọng có hư không
Thế giới thành lập nương hư không
Vọng tưởng cô đọng thành quốc độ
Do bởi tri giác có chúng sanh

空không 生sanh 大đại 覺giác 中trung
如như 海hải 一nhất 漚âu 發phát
有hữu 漏lậu 微vi 塵trần 國quốc
皆giai 依y 空không 所sở 生sanh
漚âu 滅diệt 空không 本bổn 無vô
況huống 復phục 諸chư 三tam 有hữu

Hư không sanh ra trong đại giác
Như một bọt nước nổi trên biển
Vi trần thế giới và hữu lậu
Đều nương hư không mà sanh ra
Bọt nổ hư không còn chẳng có
Hà huống lại có ba cõi sao?

歸quy 元nguyên 性tánh 無vô 二nhị
方phương 便tiện 有hữu 多đa 門môn
聖thánh 性tánh 無vô 不bất 通thông
順thuận 逆nghịch 皆giai 方phương 便tiện
初sơ 心tâm 入nhập 三tam 昧muội
遲trì 速tốc 不bất 同đồng 倫luân

Trở về nguồn cội tánh chẳng hai
Cánh cửa phương tiện có nhiều lối
Thánh trí không gì mà chẳng thông
Thuận nghịch đều là môn phương tiện
Sơ phát Đạo tâm vào chánh định
Người mau kẻ chậm chẳng đồng nhau

色sắc 想tưởng 結kết 成thành 塵trần
精tinh 了liễu 不bất 能năng 徹triệt
如như 何hà 不bất 明minh 徹triệt
於ư 是thị 獲hoạch 圓viên 通thông

Sắc kết hợp tưởng thành trần lao
Tinh yếu của chúng chẳng thông suốt
Nếu mà dùng thứ không minh triệt
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [2]

音âm 聲thanh 雜tạp 語ngữ 言ngôn
但đãn 伊y 名danh 句cú 味vị
一nhất 非phi 含hàm 一nhất 切thiết
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Ngôn ngữ kết tạp nhiều âm thanh
Để thành danh từ và câu nghĩa
Nhưng chúng không thể gồm tất cả
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [1]

香hương 以dĩ 合hợp 中trung 知tri
離ly 則tắc 元nguyên 無vô 有hữu
不bất 恆hằng 其kỳ 所sở 覺giác
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Mùi hương vào mũi mới ngửi biết
Lìa hương và mũi, ngửi vốn không
Do bởi khứu giác chẳng thường tại
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [3]

味vị 性tánh 非phi 本bổn 然nhiên
要yếu 以dĩ 味vị 時thời 有hữu
其kỳ 覺giác 不bất 恆hằng 一nhất
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Vị nếm chẳng phải tánh bổn giác
Vị nếm chỉ có khi nếm gì
Do bởi vị giác chẳng thường tại
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [4]

觸xúc 以dĩ 所sở 觸xúc 明minh
無vô 所sở 不bất 明minh 觸xúc
合hợp 離ly 性tánh 非phi 定định
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Cảm nhận xúc chạm khi sờ vào
Không vật xúc chạm làm sao biết
Tánh chạm và rời chẳng cố định
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [5]

法pháp 稱xưng 為vi 內nội 塵trần
憑bằng 塵trần 必tất 有hữu 所sở
能năng 所sở 非phi 遍biến 涉thiệp
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Pháp được gọi là, trần ở trong
Là trần thì tất phải có chỗ
Năng quán sở quán chẳng biến khắp
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [6]

見kiến 性tánh 雖tuy 洞đỗng 然nhiên
明minh 前tiền 不bất 明minh 後hậu
四tứ 維duy 虧khuy 一nhất 半bán
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Mặc dù căn mắt thấy rõ ràng
Nhưng chỉ thấy trước chẳng thấy sau
Bốn hướng một lúc chỉ thấy nửa
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [7]

鼻tị 息tức 出xuất 入nhập 通thông
現hiện 前tiền 無vô 交giao 氣khí
支chi 離ly 匪phỉ 涉thiệp 入nhập
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Hít vào thở ra qua lỗ mũi
Nhưng giữa lúc nghỉ không hơi thở
Bởi có gián đoạn chẳng liên tiếp
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [8]

舌thiệt 非phi 入nhập 無vô 端đoan
因nhân 味vị 生sanh 覺giác 了liễu
味vị 亡vong 了liễu 無vô 有hữu
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Nếu không có gì lưỡi chẳng biết
Nhân bởi nếm vật sanh vị giác
Nhận biết chẳng còn khi vị hết
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [9]

身thân 與dữ 所sở 觸xúc 同đồng
各các 非phi 圓viên 覺giác 觀quán
涯nhai 量lượng 不bất 冥minh 會hội
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Thân và xúc trần có tương đồng
Do chúng chẳng phải viên giác quán
Ranh giới, số lượng, chẳng luôn gặp
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [10]

知tri 根căn 雜tạp 亂loạn 思tư
湛trạm 了liễu 終chung 無vô 見kiến
想tưởng 念niệm 不bất 可khả 脫thoát
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Căn ý tạp loạn với suy tư
Trạm nhiên minh liễu mãi chẳng thấy
Không thể thoát khỏi tưởng và niệm
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [11]

識thức 見kiến 雜tạp 三tam 和hòa
詰cật 本bổn 稱xưng 非phi 相tướng
自tự 體thể 先tiên 無vô 定định
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Quán thức của mắt gồm ba phần
Suy xét căn bổn vô hình tướng
Tự thể nó vốn chẳng cố định
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [12]

心tâm 聞văn 洞đỗng 十thập 方phương
生sanh 於ư 大đại 因nhân 力lực
初sơ 心tâm 不bất 能năng 入nhập
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Nếu thức của tai biết cùng khắp
Là sức nhân lớn ở đời trước
Tâm người mới tu chẳng thể vào
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [13]

鼻tị 想tưởng 本bổn 權quyền 機cơ
只chỉ 令linh 攝nhiếp 心tâm 住trụ
住trụ 成thành 心tâm 所sở 住trụ
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Quán tưởng sống mũi là phương tiện
Nhằm chỉ nhiếp tâm trụ một chỗ
Tâm có chỗ trụ khi trụ thành
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [14]

說thuyết 法Pháp 弄lộng 音âm 文văn
開khai 悟ngộ 先tiên 成thành 者giả
名danh 句cú 非phi 無vô 漏lậu
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Thuyết Pháp qua tiếng của văn từ
Khai ngộ những ai đã thành tựu
Danh cú chẳng phải là vô lậu
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [15]

持trì 犯phạm 但đãn 束thúc 身thân
非phi 身thân 無vô 所sở 束thúc
元nguyên 非phi 遍biến 一nhất 切thiết
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Trì giới duy chỉ kiềm giữ thân
Phi thân không chỗ để kiềm giữ
Vốn chẳng áp dụng cho tất cả
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [16]

神thần 通thông 本bổn 宿túc 因nhân
何hà 關quan 法pháp 分phân 別biệt
念niệm 緣duyên 非phi 離ly 物vật
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Thần thông dựa vào nhân đời trước
Liên quan gì với phân biệt pháp?
Ý niệm không thể lìa khỏi vật
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [17]

若nhược 以dĩ 地địa 性tánh 觀quán
堅kiên 礙ngại 非phi 通thông 達đạt
有hữu 為vi 非phi 聖thánh 性tánh
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Nếu như quán sát tánh của đất
Rắn chắc ngăn ngại chẳng xuyên thông
Hữu vi không phải tánh của thánh
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [19]

若nhược 以dĩ 水thủy 性tánh 觀quán
想tưởng 念niệm 非phi 真chân 實thật
如như 如như 非phi 覺giác 觀quán
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Nếu như quán sát tánh của nước
Tưởng niệm như thế chẳng chân thật
Đó không phải là chân giác quán
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [20]

若nhược 以dĩ 火hỏa 性tánh 觀quán
厭yếm 有hữu 非phi 真chân 離ly
非phi 初sơ 心tâm 方phương 便tiện
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Nếu như quán sát tánh của lửa
Nhàm dục chẳng phải chân xuất ly
Không phải phương tiện cho sơ căn
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [18]

若nhược 以dĩ 風phong 性tánh 觀quán
動động 寂tịch 非phi 無vô 對đối
對đối 非phi 無vô 上thượng 覺giác
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Nếu như quán sát tánh của gió
Chuyển động tĩnh mịch tức đối nhau
Có đối chẳng phải vô thượng giác
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [21]

若nhược 以dĩ 空không 性tánh 觀quán
昏hôn 鈍độn 先tiên 非phi 覺giác
無vô 覺giác 異dị 菩Bồ 提Đề
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Nếu như quán sát tánh của không
Hôn muội hỗn độn vốn phi giác
Vô giác tức khác với thượng giác
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [22]

若nhược 以dĩ 識thức 性tánh 觀quán
觀quán 識thức 非phi 常thường 住trụ
存tồn 心tâm 乃nãi 虛hư 妄vọng
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Nếu như quán sát tánh của thức
Nhưng thức chẳng phải là thường trụ
Nó cũng ở tâm nên hư vọng
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [23]

諸chư 行hành 是thị 無vô 常thường
念niệm 性tánh 元nguyên 生sanh 滅diệt
因nhân 果quả 今kim 殊thù 感cảm
云vân 何hà 獲hoạch 圓viên 通thông

Tất cả các hành là vô thường
Tánh niệm bổn nguyên có sanh diệt
Muốn dùng nhân quả vượt nhân quả
Làm sao mà dễ chứng viên thông? [24]

我ngã 今kim 白bạch 世Thế 尊Tôn
佛Phật 出xuất 娑Sa 婆Bà 界Giới
此thử 方phương 真chân 教giáo 體thể
清thanh 淨tịnh 在tại 音âm 聞văn

Con nay kính cẩn thưa Thế Tôn
Đức Phật thị hiện tại Kham Nhẫn
Truyền dạy chân Pháp ở cõi này
Thanh tịnh chính là ở lắng nghe [25]

欲dục 取thủ 三tam 摩ma 提đề
實thật 以dĩ 聞văn 中trung 入nhập
離ly 苦khổ 得đắc 解giải 脫thoát
良lương 哉tai 觀Quán 世Thế 音Âm

Những ai muốn đắc môn chánh định
Chắc chắn lắng nghe dễ vào nhất
Lìa khỏi khổ ách được giải thoát
Lành thay diệu Pháp Quán Thế Âm

於ư 恆Hằng 沙sa 劫kiếp 中trung
入nhập 微vi 塵trần 佛Phật 國quốc
得đắc 大đại 自tự 在tại 力lực
無vô 畏úy 施thí 眾chúng 生sanh

Ở trong số kiếp Hằng Hà sa
Vào số cõi Phật như vi trần
Ngài được thần lực đại tự tại
Ban thí vô úy cho chúng sanh

妙diệu 音âm 觀Quán 世Thế 音Âm
梵Phạm 音âm 海hải 潮triều 音âm
救cứu 世thế 悉tất 安an 寧ninh
出xuất 世thế 獲hoạch 常thường 住trụ

Âm thanh vi diệu Quán Thế Âm
Như tiếng hải triều thanh tịnh âm
Cứu hộ chúng sanh đến bình an
Giúp vượt thế gian chứng thường trụ

我ngã 今kim 啟khải 如Như 來Lai
如như 觀Quán 音Âm 所sở 說thuyết
譬thí 如như 人nhân 靜tĩnh 居cư
十thập 方phương 俱câu 擊kích 鼓cổ
十thập 處xứ 一nhất 時thời 聞văn
此thử 則tắc 圓viên 真chân 實thật

Con nay thưa với Như Lai rằng
Như Quán Thế Âm đã thuyết giảng
Ví như có người tâm tĩnh lặng
Nghe tiếng trống đánh khắp mười phương
Mười phương đồng thời nghe rõ ràng
Do đó căn tai thật viên dung

目mục 非phi 觀quan 障chướng 外ngoại
口khẩu 鼻tị 亦diệc 復phục 然nhiên
身thân 以dĩ 合hợp 方phương 知tri
心tâm 念niệm 紛phân 無vô 緒tự

Mắt chẳng thấy xuyên vật ngăn ngại
Miệng mũi giới hạn cũng như thế
Thân cần xúc chạm mới cảm nhận
Tâm niệm rối ren không đầu mối

隔cách 垣viên 聽thính 音âm 響hưởng
遐hà 邇nhĩ 俱câu 可khả 聞văn
五ngũ 根căn 所sở 不bất 齊tề
是thị 則tắc 通thông 真chân 實thật

Dù bị tường ngăn tiếng vẫn nghe
Âm thanh gần xa đều nghe cả
Năm căn khác kia sao bằng tai
Là căn viên thông chân thật nhất

音âm 聲thanh 性tánh 動động 靜tĩnh
聞văn 中trung 為vi 有hữu 無vô
無vô 聲thanh 號hiệu 無vô 聞văn
非phi 實thật 聞văn 無vô 性tánh

Tĩnh động là tánh của âm thanh
Tai nghe có tiếng hoặc tĩnh lặng
Mặc dù không tiếng bảo chẳng nghe
Nhưng thật tánh nghe chẳng gián đoạn

聲thanh 無vô 即tức 無vô 滅diệt
聲thanh 有hữu 亦diệc 非phi 生sanh
生sanh 滅diệt 二nhị 圓viên 離ly
是thị 則tắc 常thường 真chân 實thật

Không tiếng nó chẳng bị diệt mất
Có tiếng nó cũng không khởi sanh
Hoàn toàn vượt khỏi sanh và diệt
Nên nó chân thật là thường hằng

縱túng 令linh 在tại 夢mộng 想tưởng
不bất 為vi 不bất 思tư 無vô
覺giác 觀quán 出xuất 思tư 惟duy
身thân 心tâm 不bất 能năng 及cập

Dù khi ý dừng trong giấc mơ
Thế nhưng tánh nghe chẳng tạm đình
Thính giác của tai vượt suy tư
Thân tâm các căn chẳng thể sánh

今kim 此thử 娑Sa 婆Bà 國Quốc
聲thanh 論luận 得đắc 宣tuyên 明minh
眾chúng 生sanh 迷mê 本bổn 聞văn
循tuần 聲thanh 故cố 流lưu 轉chuyển

Nay vì hữu tình cõi Kham Nhẫn
Con giải thích rõ về lắng nghe
Chúng sanh mê muội tánh của nghe
Chạy theo âm thanh nên lưu chuyển

阿A 難Nan 縱túng 強cường 記ký
不bất 免miễn 落lạc 邪tà 思tư
豈khởi 非phi 隨tùy 所sở 淪luân
旋toàn 流lưu 獲hoạch 無vô 妄vọng

Cho dù Khánh Hỷ trí nhớ dai
Cũng không thoát miễn rơi niệm tà
Khánh Hỷ nếu chẳng theo dòng chảy
Ngược dòng làm sao bị vọng mê?

阿A 難Nan 汝nhữ 諦đế 聽thính
我ngã 承thừa 佛Phật 威uy 力lực
宣tuyên 說thuyết 金kim 剛cang 王vương
如như 幻huyễn 不bất 思tư 議nghị
佛Phật 母mẫu 真chân 三tam 昧muội

Đại đức Khánh Hỷ hãy lắng nghe
Tôi nương thần lực của Đức Phật
Tuyên giảng cho ngài, kim cang vương
Như huyễn chân thật chẳng nghĩ bàn
Nó là chánh định mẹ chư Phật

汝nhữ 聞văn 微vi 塵trần 佛Phật
一nhất 切thiết 祕bí 密mật 門môn
欲dục 漏lậu 不bất 先tiên 除trừ
蓄súc 聞văn 成thành 過quá 誤ngộ
將tương 聞văn 持trì 佛Phật 佛Phật
何hà 不bất 自tự 聞văn 聞văn

Đại đức dù nghe vi trần Phật
Hết thảy vi diệu bí mật môn
Dục lậu nếu như chẳng trừ trước
Tu bồi học vấn thành lỗi lầm
Thọ trì muôn Pháp từ chư Phật
Sao không lắng nghe, nghe của mình?

聞văn 非phi 自tự 然nhiên 生sanh
因nhân 聲thanh 有hữu 名danh 字tự
旋toàn 聞văn 與dữ 聲thanh 脫thoát
能năng 脫thoát 欲dục 誰thùy 名danh

Bảo nghe chẳng phải tự nhiên có
Nhân bởi âm thanh có danh tự
Xoay ngược lắng nghe thoát khỏi thanh
Vậy năng giải thoát gọi là gì?

一nhất 根căn 既ký 返phản 源nguyên
六lục 根căn 成thành 解giải 脫thoát
見kiến 聞văn 如như 幻huyễn 翳ế
三tam 界giới 若nhược 空không 華hoa
聞văn 復phục 翳ế 根căn 除trừ
塵trần 銷tiêu 覺giác 圓viên 淨tịnh

Chỉ cần một căn về nguồn cội
Tất cả sáu căn liền giải thoát
Những gì thấy nghe như huyễn che
Ba cõi như hoa giữa hư không
Xoay ngược lắng nghe căn vô ngại
Trần cảnh tiêu trừ giác viên tịnh

淨tịnh 極cực 光quang 通thông 達đạt
寂tịch 照chiếu 含hàm 虛hư 空không
卻khước 來lai 觀quán 世thế 間gian
猶do 如như 夢mộng 中trung 事sự
摩Ma 登Đăng 伽Già 在tại 夢mộng
誰thùy 能năng 留lưu 汝nhữ 形hình

Thanh tịnh tột cùng sáng thông suốt
Tịch tĩnh chiếu soi khắp hư không
Quán sát muôn sự trên thế gian
Tựa như những việc ở trong mơ
Mātaṅga [ma tân ga] nữ cũng trong mơ
Vậy ai có thể bắt giữ ông?

如như 世thế 巧xảo 幻huyễn 師sư
幻huyễn 作tác 諸chư 男nam 女nữ
雖tuy 見kiến 諸chư 根căn 動động
要yếu 以dĩ 一nhất 機cơ 抽trừu
息tức 機cơ 歸quy 寂tịch 然nhiên
諸chư 幻huyễn 成thành 無vô 性tánh

Như nhà múa rối ở thế gian
Khéo làm huyễn hóa hình nam nữ
Mặc dù thấy chúng có di chuyển
Nhưng phải kéo dây để dao động
Khi cơ quan ngừng về lặng yên
Các huyễn trở thành vô bổn tánh

六lục 根căn 亦diệc 如như 是thị
元nguyên 依y 一nhất 精tinh 明minh
分phân 成thành 六lục 和hòa 合hợp
一nhất 處xứ 成thành 休hưu 復phục
六lục 用dụng 皆giai 不bất 成thành
塵trần 垢cấu 應ứng 念niệm 銷tiêu
成thành 圓viên 明minh 淨tịnh 妙diệu

Sáu căn chúng ta cũng như vậy
Chúng vốn từ một tinh nguyên minh
Rồi được phân thành sáu chức năng
Một căn dừng nghỉ quay trở về
Sáu căn đều sẽ mất công năng
Trần cấu theo niệm liền tiêu tan
Chuyển thành viên minh tịnh nhiệm mầu

餘dư 塵trần 尚thượng 諸chư 學học
明minh 極cực 即tức 如Như 來Lai

Ai còn trần lao cần phải học
Ai hiểu tột cùng tức Như Lai

大đại 眾chúng 及cập 阿A 難Nan
旋toàn 汝nhữ 倒đảo 聞văn 機cơ
反phản 聞văn 聞văn 自tự 性tánh
性tánh 成thành 無vô 上thượng 道Đạo
圓viên 通thông 實thật 如như 是thị

Đại đức Khánh Hỷ và đại chúng
Hãy chuyển cơ quan nghe điên đảo
Xoay ngược lắng nghe nghe tự tánh
Khi tánh đạt đến Đạo vô thượng
Như thế mới là chân viên thông

此thử 是thị 微vi 塵trần 佛Phật
一nhất 路lộ 涅Niết 槃Bàn 門môn
過quá 去khứ 諸chư 如Như 來Lai
斯tư 門môn 已dĩ 成thành 就tựu

Đây là cánh cửa mà chư Phật
Nhiều như vi trần đến tịch diệt
Chư Phật Như Lai ở quá khứ
Tu Pháp môn này được thành tựu

現hiện 在tại 諸chư 菩Bồ 薩Tát
今kim 各các 入nhập 圓viên 明minh
未vị 來lai 修tu 學học 人nhân
當đương 依y 如như 是thị 法Pháp

Hiện tại vô lượng chư Bồ-tát
Mỗi vị cũng vào viên giác minh
Những ai tu hành ở vị lai
Hãy nên y theo Pháp như thế

我ngã 亦diệc 從tùng 中trung 證chứng
非phi 唯duy 觀Quán 世Thế 音Âm
誠thành 如như 佛Phật 世Thế 尊Tôn

Qua phương pháp này con cũng chứng
Chẳng riêng một mình Quán Thế Âm
Thành tựu như Phật chư Thế Tôn

詢tuân 我ngã 諸chư 方phương 便tiện
以dĩ 救cứu 諸chư 末mạt 劫kiếp
求cầu 出xuất 世thế 間gian 人nhân
成thành 就tựu 涅Niết 槃Bàn 心tâm
觀Quán 世Thế 音Âm 為vi 最tối

Phật đã hỏi con phương tiện nào
Cứu hộ chúng sanh thời Mạt Pháp
Những vị phát tâm lìa thế gian
Dễ dàng thành tựu Đạo tịch diệt
Pháp môn Quán Âm là tối thượng

自tự 餘dư 諸chư 方phương 便tiện
皆giai 是thị 佛Phật 威uy 神thần
即tức 事sự 捨xả 塵trần 勞lao
非phi 是thị 常thường 修tu 學học
淺thiển 深thâm 同đồng 說thuyết 法Pháp

Tất cả phương tiện tu tập khác
Đều cần uy thần của Phật giúp
Tỉnh ngộ thế sự xả trần lao
Nhưng không phải Pháp tu học thường
Căn lành sâu cạn đồng thuyết Pháp

頂đảnh 禮lễ 如Như 來Lai 藏tạng
無vô 漏lậu 不bất 思tư 議nghị
願nguyện 加gia 被bị 未vị 來lai
於ư 此thử 門môn 無vô 惑hoặc

Con nay đảnh lễ Phật Pháp tạng
Những vị vô lậu chẳng nghĩ bàn
Chúng sanh tương lai nguyện gia bị
Với phương pháp này không hoài nghi

方phương 便tiện 易dị 成thành 就tựu
堪kham 以dĩ 教giáo 阿A 難Nan
及cập 末mạt 劫kiếp 沉trầm 淪luân
但đãn 以dĩ 此thử 根căn 修tu
圓viên 通thông 超siêu 餘dư 者giả
真chân 實thật 心tâm 如như 是thị

Đây là phương tiện dễ thành tựu
Rất hợp để dạy cho Khánh Hỷ
Cùng chúng trầm luân thời Mạt Pháp
Chỉ cần tu tập căn tai này
Viên thông siêu vượt những môn khác
Đó là con đường đến chân tâm"

於ư 是thị 阿A 難Nan及cập 諸chư 大đại 眾chúng身thân 心tâm 了liễu 然nhiên得đắc 大đại 開khai 示thị觀quán 佛Phật 菩Bồ 提Đề及cập 大đại 涅Niết 槃Bàn猶do 如như 有hữu 人nhân因nhân 事sự 遠viễn 遊du未vị 得đắc 歸quy 還hoàn明minh 了liễu 其kỳ 家gia所sở 歸quy 道đạo 路lộ
Khi ngài Khánh Hỷ và các đại chúng nghe được lời khai thị sâu xa, thân tâm của họ an nhiên minh liễu. Quán sát về giác ngộ và đại tịch diệt của Phật, họ được ví như có người phải đi xa vì công việc. Mặc dù chưa có thể quay về, nhưng người ấy biết rất rõ con đường trở về nhà của mình.

普phổ 會hội 大đại 眾chúng天thiên 龍long 八bát 部bộ有Hữu 學Học 二Nhị 乘Thừa及cập 諸chư 一nhất 切thiết新tân 發phát 心tâm 菩Bồ 薩Tát其kỳ 數số 凡phàm 有hữu十thập 恆Hằng 河Hà 沙sa皆giai 得đắc 本bổn 心tâm遠viễn 塵trần 離ly 垢cấu獲hoạch 法Pháp 眼nhãn 淨tịnh性Tánh 比Bỉ 丘Khâu 尼Ni聞văn 說thuyết 偈kệ 已dĩ成thành 阿A 羅La 漢Hán無vô 量lượng 眾chúng 生sanh皆giai 發phát 無Vô 等Đẳng 等Đẳng 阿A 耨Nậu 多Đa 羅La 三Tam 藐Miệu 三Tam 菩Bồ 提Đề 心tâm
Toàn thể đại chúng trong Pháp hội--thiên long bát bộ, những vị Hữu Học ở Nhị Thừa, cùng tất cả sơ phát tâm Bồ-tát--tổng số lượng nhiều như số cát của mười sông Hằng, họ đều chứng đắc bổn tâm, xa rời trần cấu, và được Pháp nhãn thanh tịnh. Khi vừa nghe xong những bài kệ, Bhikṣuṇī Tánh trở thành bậc Ứng Chân. Vô lượng chúng sanh đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.




阿A 難Nan 整chỉnh 衣y 服phục於ư 大đại 眾chúng 中trung合hợp 掌chưởng 頂đảnh 禮lễ心tâm 跡tích 圓viên 明minh悲bi 欣hân 交giao 集tập
Bấy giờ ở giữa đại chúng, ngài Khánh Hỷ chỉnh y phục, rồi chắp tay và đảnh lễ. Ngài vừa buồn vừa vui khi thấy dấu vết của tâm mình rất rõ ràng.

欲dục 益ích 未vị 來lai諸chư 眾chúng 生sanh 故cố稽khể 首thủ 白bạch 佛Phật
Vì muốn làm lợi ích cho các chúng sanh ở vị lai, ngài cúi đầu và thưa với Phật rằng:

大đại 悲bi 世Thế 尊Tôn我ngã 今kim 已dĩ 悟ngộ成thành 佛Phật 法Pháp 門môn是thị 中trung 修tu 行hành得đắc 無vô 疑nghi 惑hoặc常thường 聞văn 如Như 來Lai說thuyết 如như 是thị 言ngôn自tự 未vị 得đắc 度độ先tiên 度độ 人nhân 者giả菩Bồ 薩Tát 發phát 心tâm自tự 覺giác 已dĩ 圓viên能năng 覺giác 他tha 者giả如Như 來Lai 應ứng 世thế我ngã 雖tuy 未vị 度độ願nguyện 度độ 末mạt 劫kiếp一nhất 切thiết 眾chúng 生sanh
"Thưa đại bi Thế Tôn! Con bây giờ đã hiểu Pháp môn để thành Phật. Ở trong phương pháp đó, con có thể tu hành mà chẳng khởi hoài nghi. Con thường nghe Như Lai nói rằng, Bồ-tát phát tâm độ người trước khi tự mình đã qua bờ kia, còn Như Lai thì tự mình đã giác ngộ viên mãn và có thể ứng hiện ở thế gian để giác ngộ kẻ khác. Tuy vẫn chưa qua bờ kia, nhưng con nguyện độ hết thảy chúng sanh ở vào thời Mạt Pháp.

世Thế 尊Tôn此thử 諸chư 眾chúng 生sanh去khứ 佛Phật 漸tiệm 遠viễn邪tà 師sư 說thuyết 法pháp如như 恆Hằng 河Hà 沙sa欲dục 攝nhiếp 其kỳ 心tâm入nhập 三tam 摩ma 地địa云vân 何hà 令linh 其kỳ安an 立lập 道Đạo 場Tràng遠viễn 諸chư 魔ma 事sự於ư 菩Bồ 提Đề 心tâm得đắc 無vô 退thoái 屈khuất
Thưa Thế Tôn! Những chúng sanh ở thời đó sẽ dần dần xa cách Phật, còn tà sư giảng pháp thì nhiều như cát sông Hằng. Giả như các chúng sanh ở thời ấy muốn nhiếp tâm mình để vào chánh định, thì họ phải làm sao an lập Đạo Tràng, rời xa những việc của ma, và được Đạo tâm không thoái chuyển?"

爾nhĩ 時thời 世Thế 尊Tôn於ư 大đại 眾chúng 中trung稱xưng 讚tán 阿A 難Nan
Lúc bấy giờ Thế Tôn ở giữa đại chúng mà ngợi khen Tôn giả Khánh Hỷ rằng:

善thiện 哉tai 善thiện 哉tai如như 汝nhữ 所sở 問vấn安an 立lập 道Đạo 場Tràng救cứu 護hộ 眾chúng 生sanh末mạt 劫kiếp 沉trầm 溺nịch汝nhữ 今kim 諦đế 聽thính當đương 為vì 汝nhữ 說thuyết
"Lành thay, lành thay! Ông đã hỏi làm sao an lập Đạo Tràng để cứu hộ chúng sanh chìm đắm ở vào thời Mạt Pháp. Ông nay hãy lắng nghe. Ta sẽ thuyết giảng cho ông."

阿A 難Nan 大đại 眾chúng
Ngài Khánh Hỷ và đại chúng đáp rằng:

唯dụy 然nhiên 奉phụng 教giáo
"Dạ vâng, chúng con xin y giáo phụng hành."

佛Phật 告cáo 阿A 難Nan
Phật bảo ngài Khánh Hỷ:

汝nhữ 常thường 聞văn 我ngã毘Tỳ 奈Nại 耶Da 中trung宣tuyên 說thuyết 修tu 行hành三tam 決quyết 定định 義nghĩa所sở 謂vị攝nhiếp 心tâm 為vi 戒giới因nhân 戒giới 生sanh 定định因nhân 定định 發phát 慧tuệ是thị 則tắc 名danh 為vi三Tam 無Vô 漏Lậu 學Học
"Khi Ta tuyên giảng Luật Tạng, ông thường nghe Ta nói về ba nghĩa quyết định trong sự tu hành. Đó là muốn nhiếp tâm thì phải trì giới, nhân giới sanh định, và nhân định phát tuệ. Đây gọi là Ba Môn Học Vô Lậu.

阿A 難Nan云vân 何hà 攝nhiếp 心tâm我ngã 名danh 為vi 戒giới
Này Khánh Hỷ! Vì sao Ta gọi trì giới là để nhiếp tâm?

若nhược 諸chư 世thế 界giới六lục 道đạo 眾chúng 生sanh其kỳ 心tâm 不bất 淫dâm則tắc 不bất 隨tùy 其kỳ生sanh 死tử 相tương 續tục汝nhữ 修tu 三tam 昧muội本bổn 出xuất 塵trần 勞lao淫dâm 心tâm 不bất 除trừ塵trần 不bất 可khả 出xuất縱túng 有hữu 多đa 智trí禪thiền 定định 現hiện 前tiền如như 不bất 斷đoạn 淫dâm必tất 落lạc 魔ma 道đạo上thượng 品phẩm 魔ma 王vương中trung 品phẩm 魔ma 民dân下hạ 品phẩm 魔ma 女nữ彼bỉ 等đẳng 諸chư 魔ma亦diệc 有hữu 徒đồ 眾chúng各các 各các 自tự 謂vị成thành 無vô 上thượng 道Đạo
Nếu các chúng sanh ở sáu đường trong tất cả thế giới mà chẳng khởi tâm dâm dục thì họ sẽ không chuyển theo vòng sanh tử tương tục. Ông tu hành chánh định nhằm để ra khỏi trần lao, nhưng nếu tâm dâm chưa trừ thì ông chẳng thể ra khỏi trần lao. Cho dù có người thông minh tài trí và hiện tiền có thể vào thiền định, nhưng nếu không đoạn trừ dâm dục thì chắc chắn sẽ rơi vào cảnh ma. Hàng thượng phẩm sẽ làm ma vương; hàng trung phẩm sẽ làm ma dân; hàng hạ phẩm sẽ làm ma nữ. Chúng ma kia cũng có đồ đảng và ai nấy đều bảo rằng mình đã thành Đạo vô thượng.

我ngã 滅diệt 度độ 後hậu末Mạt 法Pháp 之chi 中trung多đa 此thử 魔ma 民dân熾sí 盛thịnh 世thế 間gian廣quảng 行hành 貪tham 淫dâm為vi 善Thiện 知Tri 識Thức令linh 諸chư 眾chúng 生sanh落lạc 愛ái 見kiến 坑khanh失thất 菩Bồ 提Đề 路lộ
Sau khi Ta diệt độ, trong thời Mạt Pháp sẽ xuất hiện đầy rẫy chúng ma dân này ở thế gian. Tuy chúng làm toàn việc dâm dục nhưng tỏ ra vẻ Thiện Tri Thức. Chúng ma sẽ làm cho các hữu tình rơi xuống hố tà kiến của ái dục và khiến họ lạc mất con đường giác ngộ.

汝nhữ 教giáo 世thế 人nhân修tu 三tam 摩ma 地địa先tiên 斷đoạn 心tâm 淫dâm是thị 名danh 如Như 來Lai先tiên 佛Phật 世Thế 尊Tôn第đệ 一nhất 決quyết 定định清thanh 淨tịnh 明minh 誨hối
Khi ông dạy người tu hành chánh định, thì trước tiên hãy dạy họ đoạn trừ tâm dâm dục. Đây là giáo hối minh bạch quyết định thứ nhất về thanh tịnh mà chư Phật Thế Tôn quá khứ đã dạy.

是thị 故cố 阿A 難Nan若nhược 不bất 斷đoạn 淫dâm修tu 禪thiền 定định 者giả如như 蒸chưng 沙sa 石thạch欲dục 其kỳ 成thành 飯phạn經kinh 百bách 千thiên 劫kiếp只chỉ 名danh 熱nhiệt 沙sa
Cho nên, Khánh Hỷ! Những ai tu hành thiền định mà nếu không trừ bỏ dâm dục thì như nấu cát đá mà mong nó biến thành cơm vậy. Dù trải qua trăm ngàn kiếp thì cũng chỉ gọi là cát nóng mà thôi.

何hà 以dĩ 故cố此thử 非phi 飯phạn 本bổn沙sa 石thạch 成thành 故cố
Vì sao thế? Bởi nó vốn chẳng phải là gạo mà chỉ là cát và đá.

汝nhữ 以dĩ 淫dâm 身thân求cầu 佛Phật 妙diệu 果Quả縱túng 得đắc 妙diệu 悟ngộ皆giai 是thị 淫dâm 根căn根căn 本bổn 成thành 淫dâm輪luân 轉chuyển 三tam 途đồ必tất 不bất 能năng 出xuất如Như 來Lai 涅Niết 槃Bàn何hà 路lộ 修tu 證chứng
Nếu ông cầu diệu Quả của Phật mà thân vẫn còn dâm dục, cho dù được một chút khai ngộ vi diệu nhưng sự hiểu biết đó đều là từ gốc của dâm. Nếu căn bổn của sự hiểu biết là dâm dục, ông sẽ luân chuyển trong ba đường ác và chắc chắn không thể ra khỏi. Thế thì ông làm sao tìm ra con đường để tu chứng Đạo tịch diệt của Như Lai?

必tất 使sử 淫dâm 機cơ身thân 心tâm 俱câu 斷đoạn斷đoạn 性tánh 亦diệc 無vô於ư 佛Phật 菩Bồ 提Đề斯tư 可khả 希hy 冀ký
Ông phải đoạn trừ những đầu mối khởi dâm dục từ thân lẫn tâm, và cho đến ý nghĩ diệt trừ cũng đoạn nốt. Chỉ như vậy thì đối với sự giác ngộ của Phật mới có hy vọng.

如như 我ngã 此thử 說thuyết名danh 為vi 佛Phật 說thuyết不bất 如như 此thử 說thuyết即tức 波Ba 旬Tuần 說thuyết
Những gì Ta vừa dạy chính là Phật thuyết. Nếu nói khác đi tức là ma thuyết.




阿A 難Nan又hựu 諸chư 世thế 界giới六lục 道đạo 眾chúng 生sanh其kỳ 心tâm 不bất 殺sát則tắc 不bất 隨tùy 其kỳ生sanh 死tử 相tương 續tục汝nhữ 修tu 三tam 昧muội本bổn 出xuất 塵trần 勞lao殺sát 心tâm 不bất 除trừ塵trần 不bất 可khả 出xuất縱túng 有hữu 多đa 智trí禪thiền 定định 現hiện 前tiền如như 不bất 斷đoạn 殺sát必tất 落lạc 神thần 道đạo上thượng 品phẩm 之chi 人nhân為vi 大đại 力lực 鬼quỷ中trung 品phẩm 則tắc 為vi飛phi 行hành 夜dạ 叉xoa諸chư 鬼quỷ 帥súy 等đẳng下hạ 品phẩm 當đương 為vi地địa 行hành 羅la 剎sát彼bỉ 諸chư 鬼quỷ 神thần亦diệc 有hữu 徒đồ 眾chúng各các 各các 自tự 謂vị成thành 無vô 上thượng 道Đạo
Này Khánh Hỷ! Nếu các chúng sanh ở sáu đường trong tất cả thế giới mà chẳng khởi tâm giết hại thì họ sẽ không chuyển theo vòng sanh tử tương tục. Ông tu hành chánh định nhằm để ra khỏi trần lao, nhưng nếu tâm sát chưa trừ thì ông chẳng thể ra khỏi trần lao. Cho dù có người thông minh tài trí và hiện tiền có thể vào thiền định, nhưng nếu không đoạn trừ giết chóc thì chắc chắn sẽ rơi vào cõi giới của quỷ thần. Hàng thượng phẩm sẽ làm đại lực quỷ vương; hàng trung phẩm sẽ làm quỷ tiệp tật bay trên không hoặc làm thủ lãnh của loài quỷ; hàng hạ phẩm sẽ làm quỷ bạo ác đi trên đất. Chúng quỷ thần kia cũng có đồ đảng và ai nấy đều bảo rằng mình đã thành Đạo vô thượng.

我ngã 滅diệt 度độ 後hậu末Mạt 法Pháp 之chi 中trung多đa 此thử 鬼quỷ 神thần熾sí 盛thịnh 世thế 間gian自tự 言ngôn 食thực 肉nhục得đắc 菩Bồ 提Đề 路lộ
Sau khi Ta diệt độ, trong thời Mạt Pháp sẽ xuất hiện đầy rẫy chúng quỷ thần này ở thế gian. Chúng bảo rằng ăn thịt sẽ không cản trở con đường giác ngộ.

阿A 難Nan我ngã 令lệnh 比Bỉ 丘Khâu食thực 五ngũ 淨tịnh 肉nhục此thử 肉nhục 皆giai 我ngã神thần 力lực 化hóa 生sanh本bổn 無vô 命mạng 根căn
Này Khánh Hỷ! Ta cho phép các vị Bhikṣu ăn năm loại tịnh nhục. Những loại thịt đó đều do thần lực của Ta biến hóa ra và chúng vốn chẳng có mạng căn.

汝nhữ 婆Bà 羅La 門Môn地địa 多đa 蒸chưng 濕thấp加gia 以dĩ 沙sa 石thạch草thảo 菜thái 不bất 生sanh我ngã 以dĩ 大đại 悲bi神thần 力lực 所sở 加gia因nhân 大đại 慈từ 悲bi假giả 名danh 為vi 肉nhục汝nhữ 得đắc 其kỳ 味vị奈nại 何hà 如Như 來Lai滅diệt 度độ 之chi 後hậu食thực 眾chúng 生sanh 肉nhục名danh 為vi 釋Thích 子tử
Vì lòng đại bi cho những vị muốn tu hạnh thanh tịnh nhưng phải sống ở vùng đầm lầy ẩm ướt hoặc nơi cát đá mà rau cỏ chẳng thể sanh trưởng, nên Ta đã dùng thần lực gia hộ. Giả danh gọi chúng là thịt để cho các ông được mùi vị đó. Thế thì sau khi Như Lai diệt độ, làm sao những ai ăn thịt chúng sanh mà có thể gọi là đệ tử của Năng Nhân ư?

汝nhữ 等đẳng 當đương 知tri是thị 食thực 肉nhục 人nhân縱túng 得đắc 心tâm 開khai似tự 三tam 摩ma 地địa皆giai 大đại 羅la 剎sát報báo 終chung 必tất 沉trầm生sanh 死tử 苦khổ 海hải非phi 佛Phật 弟đệ 子tử如như 是thị 之chi 人nhân相tương 殺sát 相tương 吞thôn相tương 食thực 未vị 已dĩ云vân 何hà 是thị 人nhân得đắc 出xuất 三tam 界giới
Các ông phải biết rằng, cho dù những kẻ ăn thịt này được chút khai ngộ trong khi tu tập chánh định, nhưng chúng đều là quỷ chúa bạo ác. Sau khi hết báo thân, chúng chắc chắn sẽ chìm đắm trong biển khổ của sanh tử. Chúng không phải là đệ tử của Phật. Những kẻ như thế sẽ tàn sát và ăn nuốt lẫn nhau. Vậy thì làm sao những kẻ đó có thể ra khỏi ba cõi chứ?

汝nhữ 教giáo 世thế 人nhân修tu 三tam 摩ma 地địa次thứ 斷đoạn 殺sát 生sanh是thị 名danh 如Như 來Lai先tiên 佛Phật 世Thế 尊Tôn第đệ 二nhị 決quyết 定định清thanh 淨tịnh 明minh 誨hối
Khi ông dạy người tu hành chánh định, thì hãy dạy họ đoạn trừ tâm giết hại. Đây là giáo hối minh bạch quyết định thứ nhì về thanh tịnh mà chư Phật Thế Tôn quá khứ đã dạy.

是thị 故cố 阿A 難Nan若nhược 不bất 斷đoạn 殺sát修tu 禪thiền 定định 者giả譬thí 如như 有hữu 人nhân自tự 塞tắc 其kỳ 耳nhĩ高cao 聲thanh 大đại 叫khiếu求cầu 人nhân 不bất 聞văn此thử 等đẳng 名danh 為vi欲dục 隱ẩn 彌di 露lộ
Cho nên, Khánh Hỷ! Những ai tu hành thiền định mà nếu không trừ bỏ giết hại thì tựa như có người tự bịt tai của mình, rồi hô lớn tiếng và mong người khác chẳng nghe vậy. Đây gọi là muốn che giấu chứng cứ rành rành.

清thanh 淨tịnh 比Bỉ 丘Khâu及cập 諸chư 菩Bồ 薩Tát於ư 歧kỳ 路lộ 行hành不bất 蹋đạp 生sanh 草thảo況huống 以dĩ 手thủ 拔bạt云vân 何hà 大đại 悲bi取thủ 諸chư 眾chúng 生sanh血huyết 肉nhục 充sung 食thực
Khi đi trên con đường nhỏ, chư Bồ-tát và những vị Bhikṣu thanh tịnh còn không giẫm chân lên cỏ, huống nữa là lấy tay nhổ chúng. Làm sao có thể gọi là từ bi mà lại ăn thịt uống máu của các chúng sanh chứ?

若nhược 諸chư 比Bỉ 丘Khâu不bất 服phục 東đông 方phương絲ti 綿miên 絹quyên 帛bạch及cập 是thị 此thử 土thổ靴ngoa 履lý 裘cừu 毳thuế乳nhũ 酪lạc 醍đề 醐hồ如như 是thị 比Bỉ 丘Khâu於ư 世thế 真chân 脫thoát酬thù 還hoàn 宿túc 債trái不bất 遊du 三tam 界giới
Nếu các vị Bhikṣu không mặc tơ lụa từ phương đông, dù là thô hay mịn; cũng như không mang giày da, áo lông cừu, hay sản phẩm làm bằng lông chim ở quốc gia này; cũng như không dùng sữa, sữa đặc, hay bơ tinh chế, thì các vị Bhikṣu như thế thật đã thoát khỏi thế giới. Khi đã trả xong nợ của những đời trước, họ sẽ không còn lưu chuyển ở ba cõi.

何hà 以dĩ 故cố服phục 其kỳ 身thân 分phần皆giai 為vi 彼bỉ 緣duyên如như 人nhân 食thực 其kỳ地địa 中trung 百bách 穀cốc足túc 不bất 離ly 地địa必tất 使sử 身thân 心tâm於ư 諸chư 眾chúng 生sanh若nhược 身thân 身thân 分phần身thân 心tâm 二nhị 途đồ不bất 服phục 不bất 食thực我ngã 說thuyết 是thị 人nhân真chân 解giải 脫thoát 者giả
Vì sao thế? Bởi sử dụng một phần của loài hữu tình nào đó thì sẽ có nghiệp duyên với chúng. Đây ví như con người do ăn trăm loại hạt sanh sôi từ đất nên chân của họ chẳng lìa khỏi mặt đất vậy. Những ai không ăn thịt hoặc không khoác lên đồ vật làm từ thân thể của các chúng sanh, và cho đến thân tâm chẳng nghĩ ăn hay mặc những sản phẩm làm từ động vật, thì Ta nói rằng họ là người giải thoát chân thật.

如như 我ngã 此thử 說thuyết名danh 為vi 佛Phật 說thuyết不bất 如như 此thử 說thuyết即tức 波Ba 旬Tuần 說thuyết
Những gì Ta vừa dạy chính là Phật thuyết. Nếu nói khác đi tức là ma thuyết.




阿A 難Nan又hựu 復phục 世thế 界giới六lục 道đạo 眾chúng 生sanh其kỳ 心tâm 不bất 偷thâu則tắc 不bất 隨tùy 其kỳ生sanh 死tử 相tương 續tục汝nhữ 修tu 三tam 昧muội本bổn 出xuất 塵trần 勞lao偷thâu 心tâm 不bất 除trừ塵trần 不bất 可khả 出xuất縱túng 有hữu 多đa 智trí禪thiền 定định 現hiện 前tiền如như 不bất 斷đoạn 偷thâu必tất 落lạc 邪tà 道đạo上thượng 品phẩm 精tinh 靈linh中trung 品phẩm 妖yêu 魅mị下hạ 品phẩm 邪tà 人nhân諸chư 魅mị 所sở 著trước彼bỉ 等đẳng 群quần 邪tà亦diệc 有hữu 徒đồ 眾chúng各các 各các 自tự 謂vị成thành 無vô 上thượng 道Đạo
Lại nữa, Khánh Hỷ! Nếu các chúng sanh ở sáu đường trong tất cả thế giới mà chẳng khởi tâm trộm cắp thì họ sẽ không chuyển theo vòng sanh tử tương tục. Ông tu hành chánh định nhằm để ra khỏi trần lao, nhưng nếu tâm trộm cắp chưa trừ thì ông chẳng thể ra khỏi trần lao. Cho dù có người thông minh tài trí và hiện tiền có thể vào thiền định, nhưng nếu không đoạn trừ trộm cắp thì chắc chắn sẽ rơi vào tà đạo. Hàng thượng phẩm sẽ làm yêu tinh hút tinh khí; hàng trung phẩm sẽ làm yêu ma quỷ quái; hàng hạ phẩm sẽ làm người bị ma quỷ nhập. Chúng yêu tà kia cũng có đồ đảng và ai nấy đều bảo rằng mình đã thành Đạo vô thượng.

我ngã 滅diệt 度độ 後hậu末Mạt 法Pháp 之chi 中trung多đa 此thử 妖yêu 邪tà熾sí 盛thịnh 世thế 間gian潛tiềm 匿nặc 奸gian 欺khi稱xưng 善Thiện 知Tri 識Thức各các 自tự 謂vị 己kỷ得đắc 上thượng 人nhân 法Pháp炫huyễn 惑hoặc 無vô 識thức恐khủng 令linh 失thất 心tâm所sở 過quá 之chi 處xứ其kỳ 家gia 耗hao 散tán
Sau khi Ta diệt độ, trong thời Mạt Pháp sẽ xuất hiện đầy rẫy chúng yêu tà này ở thế gian. Chúng giấu giếm gian dối nhưng tỏ ra vẻ Thiện Tri Thức, và ai nấy đều bảo rằng mình đã đắc Pháp của bậc thượng nhân. Chúng mê hoặc những kẻ vô tri và khủng bố tinh thần người khác. Bất cứ nơi nào mà chúng đi qua, gia đình đó sẽ suy hao và ly tán.

我ngã 教giáo 比Bỉ 丘Khâu循tuần 方phương 乞khất 食thực令linh 其kỳ 捨xả 貪tham成thành 菩Bồ 提Đề 道Đạo諸chư 比Bỉ 丘Khâu 等đẳng不bất 自tự 熟thục 食thực寄ký 於ư 殘tàn 生sanh旅lữ 泊bạc 三tam 界giới示thị 一nhất 往vãng 還hoàn去khứ 已dĩ 無vô 返phản云vân 何hà 賊tặc 人nhân假giả 我ngã 衣y 服phục裨bì 販phán 如Như 來Lai造tạo 種chủng 種chủng 業nghiệp皆giai 言ngôn 佛Phật 法Pháp卻khước 非phi 出xuất 家gia具cụ 戒giới 比Bỉ 丘Khâu為vi 小Tiểu 乘Thừa 道Đạo由do 是thị 疑nghi 誤ngộ無vô 量lượng 眾chúng 生sanh墮đọa 無Vô 間Gián 獄Ngục
Ta dạy các vị Bhikṣu hãy tùy mỗi phương xứ mà đi khất thực là để xả bỏ lòng tham của mình và giúp thành tựu Phật Đạo. Các vị Bhikṣu không tự mình nấu thức ăn. Họ sống như thế đến suốt cuộc đời và du hành trong ba cõi. Nơi nào họ đã đi qua một lần thì sẽ không trở lại. Làm sao kẻ cướp giả mặc y phục của Ta để tự lợi, buôn bán trong Pháp của Như Lai, và tạo đủ mọi nghiệp ác mà có thể gọi là Phật Pháp chứ? Họ hủy báng người xuất gia và nói rằng những vị Bhikṣu đã thọ giới Cụ Túc đi theo Đạo Nhị Thừa. Và như thế họ khiến cho vô lượng chúng sanh ngờ vực và mê lầm, rồi chính họ sẽ đọa Địa ngục Vô Gián.

若nhược 我ngã 滅diệt 後hậu其kỳ 有hữu 比Bỉ 丘Khâu發phát 心tâm 決quyết 定định修tu 三tam 摩ma 提đề能năng 於ư 如Như 來Lai形hình 像tượng 之chi 前tiền身thân 然nhiên 一nhất 燈đăng燒thiêu 一nhất 指chỉ 節tiết及cập 於ư 身thân 上thượng爇nhiệt 一nhất 香hương 炷chú我ngã 說thuyết 是thị 人nhân無vô 始thỉ 宿túc 債trái一nhất 時thời 酬thù 畢tất長trường 揖ấp 世thế 間gian永vĩnh 脫thoát 諸chư 漏lậu雖tuy 未vị 即tức 明minh無vô 上thượng 覺giác 路lộ是thị 人nhân 於ư 法Pháp已dĩ 決quyết 定định 心tâm若nhược 不bất 為vì 此thử捨xả 身thân 微vi 因nhân縱túng 成thành 無vô 為vi必tất 還hoàn 生sanh 人nhân酬thù 其kỳ 宿túc 債trái如như 我ngã 馬mã 麥mạch正chánh 等đẳng 無vô 異dị
Sau khi Ta diệt độ, nếu có những vị Bhikṣu nào phát tâm kiên định tuyệt đối để tu hành chánh định, thì có thể trước hình tượng của Như Lai mà thắp một ngọn đèn ở trên thân, hoặc đốt một ngón tay, hay thiêu một miếng hương ở trên thân. Ta nói người này cùng một lúc sẽ trả hết nợ từ vô thỉ. Vị ấy sẽ có thể chào vĩnh biệt thế gian và vĩnh viễn thoát khỏi các lậu. Tuy chưa có thể lập tức hiểu làm sao tiến bước trên con đường giác ngộ vô thượng, nhưng vị ấy đã lập quyết tâm nơi Pháp. Nếu ai chẳng chịu xả chút thân nho nhỏ đó để làm nhân, và cho dù đã thành tựu vô vi thì chắc chắn cũng sẽ sanh trở lại làm người để trả nợ đời trước. Đây giống như việc Ta phải ăn lúa mạch dành cho ngựa vậy--không chút sai khác.

汝nhữ 教giáo 世thế 人nhân修tu 三tam 摩ma 地địa後hậu 斷đoạn 偷thâu 盜đạo是thị 名danh 如Như 來Lai先tiên 佛Phật 世Thế 尊Tôn第đệ 三tam 決quyết 定định清thanh 淨tịnh 明minh 誨hối
Khi ông dạy người tu hành chánh định, thì hãy dạy họ đoạn trừ tâm trộm cắp. Đây là giáo hối minh bạch quyết định thứ ba về thanh tịnh mà chư Phật Thế Tôn quá khứ đã dạy.

是thị 故cố 阿A 難Nan若nhược 不bất 斷đoạn 偷thâu修tu 禪thiền 定định 者giả譬thí 如như 有hữu 人nhân水thủy 灌quán 漏lậu 巵chi欲dục 求cầu 其kỳ 滿mãn縱túng 經kinh 塵trần 劫kiếp終chung 無vô 平bình 復phục
Cho nên, Khánh Hỷ! Những ai tu hành thiền định mà nếu không trừ bỏ trộm cắp thì tựa như có người muốn rót đầy nước cho một cái ly bị lủng lỗ. Cho dù trải qua số kiếp nhiều như vi trần thì cũng không bao giờ đầy ly.

若nhược 諸chư 比Bỉ 丘Khâu衣y 缽bát 之chi 餘dư分phần 寸thốn 不bất 蓄súc乞khất 食thực 餘dư 分phần施thí 餓ngạ 眾chúng 生sanh於ư 大đại 集tập 會hội合hợp 掌chưởng 禮lễ 眾chúng有hữu 人nhân 捶chúy 詈lị同đồng 於ư 稱xưng 讚tán必tất 使sử 身thân 心tâm二nhị 俱câu 捐quyên 捨xả身thân 肉nhục 骨cốt 血huyết與dữ 眾chúng 生sanh 共cộng不bất 將tương 如Như 來Lai不bất 了liễu 義nghĩa 說thuyết迴hồi 為vì 己kỷ 解giải以dĩ 誤ngộ 初sơ 學học佛Phật 印ấn 是thị 人nhân得đắc 真chân 三tam 昧muội
Nếu những vị Bhikṣu nào không cất giữ vật gì ngoại trừ Pháp y và bình bát; vị ấy bố thí phần thức ăn thừa từ khất thực cho chúng sanh đang đói; vị ấy có thể chắp tay đảnh lễ mọi người ở giữa đại chúng; vị ấy có thể xem như xưng tán dù bị người đánh đập hay mắng chửi; vị ấy thật sự có thể xả bỏ thân tâm và chia sẻ xương máu thịt của mình với chúng sanh; vị ấy không bao giờ mang lời dạy chẳng liễu nghĩa của Như Lai để truyền dạy sai lầm cho người sơ học--Ta ấn chứng cho vị ấy sẽ đắc chánh định chân thật.

如như 我ngã 所sở 說thuyết名danh 為vi 佛Phật 說thuyết不bất 如như 此thử 說thuyết即tức 波Ba 旬Tuần 說thuyết
Những gì Ta vừa dạy chính là Phật thuyết. Nếu nói khác đi tức là ma thuyết.




阿A 難Nan如như 是thị 世thế 界giới六lục 道đạo 眾chúng 生sanh雖tuy 則tắc 身thân 心tâm無vô 殺sát 盜đạo 婬dâm三tam 行hành 已dĩ 圓viên若nhược 大đại 妄vọng 語ngữ即tức 三tam 摩ma 地địa不bất 得đắc 清thanh 淨tịnh成thành 愛ái 見kiến 魔ma失thất 如Như 來Lai 種chủng所sở 謂vị未vị 得đắc 謂vị 得đắc未vị 證chứng 言ngôn 證chứng
Này Khánh Hỷ! Mặc dù có những chúng sanh ở trong sáu đường đã hoàn toàn lìa khỏi ba nghiệp--sát sanh, trộm cắp, và dâm dục, nhưng nếu phạm đại vọng ngữ thì chánh định của họ sẽ không được thanh tịnh, sẽ bị ma tình ái hoặc ma tà kiến mê hoặc, và sẽ đánh mất hạt giống để thành Phật. Họ sẽ nói rằng mình đã đắc nhưng thật chưa đắc, rằng mình đã chứng nhưng thật chưa chứng.

或hoặc 求cầu 世thế 間gian尊tôn 勝thắng 第đệ 一nhất謂vị 前tiền 人nhân 言ngôn我ngã 今kim 已dĩ 得đắc須Tu 陀Đà 洹Hoàn 果Quả斯Tư 陀Đà 含Hàm 果Quả阿A 那Na 含Hàm 果Quả阿A 羅La 漢Hán 道Đạo辟Bích 支Chi 佛Phật 乘Thừa十Thập 地Địa 地Địa 前tiền諸chư 位vị 菩Bồ 薩Tát求cầu 彼bỉ 禮lễ 懺sám貪tham 其kỳ 供cúng 養dường是thị 一nhất 顛điên 迦ca消tiêu 滅diệt 佛Phật 種chủng如như 人nhân 以dĩ 刀đao斷đoạn 多đa 羅la 木mộc佛Phật 記ký 是thị 人nhân永vĩnh 殞vẫn 善thiện 根căn無vô 復phục 知tri 見kiến沉trầm 三tam 苦khổ 海hải不bất 成thành 三tam 昧muội
Hoặc vì muốn cho người đời tôn mình là đệ nhất, họ ở trước mọi người mà nói rằng nay họ đã đắc Quả Nhập Lưu, Quả Nhất Lai, Quả Bất Hoàn, Đạo Ứng Chân, Đạo Độc Giác, hoặc một Địa nào đó trong Mười Địa, hay một quả vị nào đó trước Mười Địa của Bồ-tát. Và vì tham cúng dường, họ khuyến khích mọi người lễ lạy và sám hối ở trước mình. Những kẻ đó hoàn toàn chẳng tin Pháp, tiêu diệt hạt giống để thành Phật, và họ được ví như cây cọ đã bị người lấy dao chặt đứt. Đức Phật dự ký những kẻ này sẽ vĩnh viễn hủy diệt căn lành và sẽ không hồi phục tri kiến. Họ sẽ trầm luân trong biển của ba thống khổ và sẽ không thành tựu chánh định.

我ngã 滅diệt 度độ 後hậu敕sắc 諸chư 菩Bồ 薩Tát及cập 阿A 羅La 漢Hán應ứng 身thân 生sanh 彼bỉ末Mạt 法Pháp 之chi 中trung作tác 種chủng 種chủng 形hình度độ 諸chư 輪luân 轉chuyển或hoặc 作tác 沙Sa 門Môn白bạch 衣y 居cư 士sĩ人nhân 王vương 宰tể 官quan童đồng 男nam 童đồng 女nữ如như 是thị 乃nãi 至chí淫dâm 女nữ 寡quả 婦phụ姦gian 偷thâu 屠đồ 販phán與dữ 其kỳ 同đồng 事sự稱xưng 讚tán 佛Phật 乘Thừa令linh 其kỳ 身thân 心tâm入nhập 三tam 摩ma 地địa終chung 不bất 自tự 言ngôn我ngã 真chân 菩Bồ 薩Tát真chân 阿A 羅La 漢Hán洩duệ 佛Phật 密mật 因nhân輕khinh 言ngôn 末mạt 學học唯duy 除trừ 命mạng 終chung陰âm 有hữu 遺di 付phó云vân 何hà 是thị 人nhân惑hoặc 亂loạn 眾chúng 生sanh成thành 大đại 妄vọng 語ngữ
Sau khi Ta diệt độ, Như Lai sắc lệnh cho chư Bồ-tát và những vị Ứng Chân hãy ứng thân sanh ra vào thời Mạt Pháp với đủ mọi thân hình để độ các chúng sanh trong luân hồi. Hoặc các ngài sẽ hiện ra hình tướng của Đạo Nhân, cư sĩ bạch y, vua chúa, tể quan, đồng nam, đồng nữ, và như vậy cho đến dâm nữ, quả phụ, kẻ lừa đảo, đạo tặc, kẻ làm nghề mổ giết, hay kẻ buôn bán gian lận. Các ngài sẽ trở thành đồng sự với những hạng người trên, nhưng luôn xưng tán Phật Thừa và khiến thân tâm của họ vào chánh định. Tuy nhiên, các ngài sẽ không bao giờ tùy tiện nói với hàng sơ học và tiết lộ mật nhân của Phật, rằng mình đích thật là một vị Bồ-tát hoặc là bậc Ứng Chân--chỉ duy trừ bí mật phó chúc ở vào lúc cuối đời. Còn những ai giả mạo chứng Quả tức là đang mê hoặc và não loạn chúng sanh với đại vọng ngữ.

汝nhữ 教giáo 世thế 人nhân修tu 三tam 摩ma 地địa後hậu 復phục 斷đoạn 除trừ諸chư 大đại 妄vọng 語ngữ是thị 名danh 如Như 來Lai先tiên 佛Phật 世Thế 尊Tôn第đệ 四tứ 決quyết 定định清thanh 淨tịnh 明minh 誨hối
Khi ông dạy người tu hành chánh định, thì hãy dạy họ đoạn trừ đại vọng ngữ. Đây là giáo hối minh bạch quyết định thứ tư về thanh tịnh mà chư Phật Thế Tôn quá khứ đã dạy.

是thị 故cố 阿A 難Nan若nhược 不bất 斷đoạn 其kỳ大đại 妄vọng 語ngữ 者giả如như 刻khắc 人nhân 糞phẩn為vi 旃chiên 檀đàn 形hình欲dục 求cầu 香hương 氣khí無vô 有hữu 是thị 處xứ
Cho nên, Khánh Hỷ! Những ai không trừ bỏ đại vọng ngữ thì tựa như có người lấy phân để nặn thành hình của một miếng hương đàn, rồi mong nó tỏa ra mùi thơm. Thật không có việc ấy!

我ngã 教giáo 比Bỉ 丘Khâu直trực 心tâm 道Đạo 場Tràng於ư 四tứ 威uy 儀nghi一nhất 切thiết 行hành 中trung尚thượng 無vô 虛hư 假giả云vân 何hà 自tự 稱xưng得đắc 上thượng 人nhân 法Pháp譬thí 如như 窮cùng 人nhân妄vọng 號hiệu 帝đế 王vương自tự 取thủ 誅tru 滅diệt況huống 復phục 法Pháp 王Vương如như 何hà 妄vọng 竊thiết
Ta dạy các vị Bhikṣu, rằng trực tâm là Đạo Tràng và phải hoàn toàn không chút hư ngụy của mọi hành vi trong bốn uy nghi. Tại sao có người lại tự xưng rằng mình đã đắc Pháp của bậc thượng nhân chứ? Việc đó thì giống như có kẻ bần cùng mạo xưng là đế vương; ắt sẽ phải tự chuốc cái chết. Huống chi lại có kẻ mạo xưng là Pháp Vương?

因nhân 地địa 不bất 真chân果quả 招chiêu 紆hu 曲khúc求cầu 佛Phật 菩Bồ 提Đề如như 噬phệ 臍tề 人nhân欲dục 誰thùy 成thành 就tựu若nhược 諸chư 比Bỉ 丘Khâu心tâm 如như 直trực 弦huyền一nhất 切thiết 真chân 實thật入nhập 三tam 摩ma 地địa永vĩnh 無vô 魔ma 事sự我ngã 印ấn 是thị 人nhân成thành 就tựu 菩Bồ 薩Tát無vô 上thượng 知tri 覺giác
Nếu lúc khởi đầu không chân thật thì kết quả sẽ chuốc lấy quanh co. Những ai cầu Phật Đạo như thế thì như người muốn tự cắn rốn của mình. Có ai mong việc đó sẽ thành tựu chăng? Nếu tâm của các vị Bhikṣu ngay thẳng như sợi dây đàn và hoàn toàn chân thật vào chánh định thì vĩnh viễn sẽ không gặp những việc ma. Ta ấn chứng người ấy sẽ thành tựu tri giác vô thượng của Bồ-tát.

如như 我ngã 所sở 說thuyết名danh 為vi 佛Phật 說thuyết不bất 如như 此thử 說thuyết即tức 波Ba 旬Tuần 說thuyết
Những gì Ta vừa dạy chính là Phật thuyết. Nếu nói khác đi tức là ma thuyết.

大Đại 佛Phật 頂Đảnh 如Như 來Lai 密Mật 因Nhân 修Tu 證Chứng 了Liễu 義Nghĩa 諸Chư 菩Bồ 薩Tát 萬Vạn 行Hạnh 首Thủ 楞Lăng 嚴Nghiêm 經Kinh 卷quyển 第đệ 六lục
Kinh Đại Phật Đảnh Cứu Cánh Kiên Cố và Mật Nhân của Như Lai về Chư Bồ-tát Vạn Hạnh để Tu Chứng Liễu Nghĩa ♦ Hết quyển 6

唐Đường 天Thiên 竺Trúc 法Pháp 師sư 般Bát 剌Lạt 蜜Mật 帝Đế 譯dịch
Dịch sang cổ văn: Pháp sư Cực Lượng ở Thế Kỷ 7-8
Dịch sang tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận
Phiên âm và chấm câu: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận
Phiên âm: 3/9/2013 ◊ Dịch nghĩa: 5/8/2016 ◊ Cập nhật: 2/10/2019

Cách đọc âm tiếng Phạn

Bhikṣu: bíc su
Bhikṣuṇī: bíc su ni
Mātaṅga: ma tân ga
Đang dùng phương ngữ: BắcNam